Bệnh nhân đái tháo đường thường xảy ra biến chứng rối loạn tiểu tiện.

Rối loạn chức năng bàng quang đặc trưng bởi sự giảm cảm giác bàng quang, tăng sức chứa và giảm khả năng co bóp cơ bàng quang, kết quả là tăng tiểu tồn dư; bí tiểu và rỉ tiểu do đầy tràn. Các chuyên gia nội khoa cho rằng, bệnh nhân đái tháo đường có thể kèm theo phì đại tuyến tiền liệt, rỉ tiểu gắng sức, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư bàng quang và nhiễm khuẩn tiết niệu mà triệu chứng của nó cùng tồn tại hoặc giống với bệnh lý bàng quang do đái tháo đường. Vì vậy những bệnh nhân này thường xuất hiện các triệu chứng đường tiết niệu dưới mà không rõ nguyên nhân gì. Các nghiên cứu khuyến cáo thực hiện thăm dò niệu động học sẽ giúp chẩn đoán được những rối loạn chức năng bàng quang không có triệu chứng. Việc chẩn đoán chính xác sẽ giúp hiểu được rõ sinh lý bệnh, điều trị đúng rối loạn tiểu tiện ở bệnh nhân đái tháo đường. Một vấn đề lưu ý là nguy cơ liên quan đến thăm dò niệu động học ở bệnh nhân đái tháo đường.
Từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Đào Vũ cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai tiến hành nghiên cứu tiến cứu can thiệp không ngẫu nhiên có đối chứng báo cáo đề tài “Nghiên cứu biến chứng đường tiết niệu dưới sau thăm dò niệu động học ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2”. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và không đái tháo đường có triệu chứng đường tiểu dưới được tiến hành thăm dò niệu động học tại Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu không chọn bệnh nhân bị nhiễm khuẩn tiết niệu cấp, đang đặt thông tiểu lưu qua niệu đạo; bệnh nhân có sỏi tiết niệu.
Tác giả nghiên cứu cho biết, có 47 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và 55 bệnh nhân không bị đái tháo đường có độ tuổi ngang nhau được mời tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu được khám lâm sàng, thực hiện đầy đủ xét nghiệm, tổng phân tích nước tiểu, cấy nước tiểu trước thăm dò niệu động học. Các bác sĩ dặn bệnh nhân cần uống đủ nước và yêu cầu khẩn trương đến Bệnh viện nếu xuất hiện các triệu chứng quan trọng như sốt, đái máu, đái đục. Đối tượng nghiên cứu được hẹn đến khám lại 1 tuần sau thăm dò niệu động học, trả lời câu hỏi nghiên cứu, lấy nước tiểu soi tươi, cấy nước tiểu. Lấy bệnh phẩm nước tiểu giữa dòng để soi tươi và cấy nước tiểu 3 – 5 ngày trước khi nghiên cứu, đánh giá nhiễm khuẩn không triệu chứng. Nhiễm khuẩn không triệu chứng có ý nghĩa khi cấy nước tiểu trên 105cfu/ml. Soi nước tiểu dưới kính hiển vi có trên 10 bạch cầu (100 tế bào/ml) coi là đái mủ. Nếu là nhiễm khuẩn tiết niệu điều trị, dừng thăm dò niệu động học loại đối tượng ra khỏi nghiên cứu. Trong nghiên cứu không có đối tượng nghiên cứu sử dụng kháng sinh dự phòng trước và sau khi thăm dò niệu động học. Tất cả đối tượng nghiên cứu được đo áp lực bàng quang bằng cách đổ đầy bàng quang và ghi áp lực bằng thông hai nòng cỡ 8Fr qua niệu đạo; ghi áp lực ổ bụng bằng thông 4,5Fr. Tác giả nghiên cứu sử dụng thang điểm đánh giá triệu chứng đường tiểu dưới IPSS (The International Prostate Symptom Score).
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu Đỗ Đào Vũ, đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu của 2 nhóm không có sự khác biệt (p > 0,05). Đánh giá chất lượng sống 2 nhóm bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường theo giới tính cho kết quả khá giống nhau; đối với nam là 3,6 và 3,4; đối với nữ là 33,1 và 33,3 điểm (p > 0,05). Tỷ lệ có bệnh lý bàng quang ở hai giới là 37,4% nam so với 34,5% ở nữ (p > 0,05).
Tác giả nghiên cứu cho biết, niệu động học là thăm dò phổ biến và quan trọng trong các bệnh lý tiểu không tự chủ như: rỉ tiểu, rối loạn tiểu tiện, tiểu khó do hoặc không do yếu tố cản trở đường tiểu ra. Tuy nhiên thăm dò niệu động học là một can thiệp xâm lấn, có thể là nguyên nhân của một số biến chứng. Kết quả trong nghiên cứu, tỷ lệ biến chứng là 27,6% ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường; 14,5% ở nhóm không đái tháo đường sau thăm dò niệu động học.

Nhìn chung, tác giả nhận xét những bệnh nhân bị đái tháo đường có nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu cao gấp 10 lần so với người khỏe mạnh. Vì vậy tác giả khuyến nghị cần sàng lọc nhiễm khuẩn tiết niệu ở những bệnh nhân đái tháo đường trước khi thăm dò niệu động học. Nếu nhiễm khuẩn, bệnh nhân cần được điều trị và việc thăm dò niệu động học sẽ trì hoãn lại. Trong nghiên cứu, tất cả bệnh nhân cấy nước tiểu dương tính sẽ được điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ, niệu động học sẽ dừng lại và loại bệnh nhân ra khỏi nhóm nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu, tác giả chia sẻ, tỷ lệ bệnh lý bàng quang do đái tháo đường cao hơn ở cả 2 giới nam và nữ, tương ứng 37,4% và 34,3%.
Có những nghiên cứu cho thấy tỷ lệ biến chứng sau thăm dò niệu động học là rất thấp như cấy nước tiểu dương tính 1,1%; đái máu 4,4%; không có sốt ở những bệnh nhân nữ ngoại trú đến thăm dò niệu động học. Như vậy có một tỷ lệ bệnh nhân gặp phải biến chứng sau thăm dò niệu động học. Các tác giả nghiên cứu khác cũng lưu ý, thăm dò niệu động học gây ra một tỷ lệ không nhỏ biến chứng, đặc biệt là đối với nam giới. Kết quả trong nghiên cứu của BS Vũ, nam giới có tỷ lệ biến chứng sau thăm dò niệu động học cao hơn so với nữ (23% và 18%); đối với nhóm bệnh nhân đái tháo đường tỷ lệ này là 27,6% và 14,5% đối với nhóm không có đái tháo đường. Lý do tác giả giải thích là do niệu đạo của nam giới dài hơn, tác động của cản trở đường ra cao hơn và niệu đạo bị kích thích và phù nề là nguyên nhân dẫn đến phải đặt thông niệu đạo. Một lý do nữa là các biến chứng ở bệnh nhân nam đái tháo đường cao hơn đối tượng không đái tháo đường do bản thân bệnh nhân có biến chứng ở bàng quang. Tác giả nghiên cứu lưu ý quy trình thăm dò niệu động học là quá trình không dễ chịu, có tỷ lệ cao người bệnh thấy đau và đái khó sau thăm dò niệu động học.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, thăm dò niệu động học là phương pháp quan trọng giúp chẩn đoán các rối loạn đường tiểu dưới. Các biến chứng sau thăm dò niệu động học gồm nhiễm khuẩn tiết niệu, bí tiểu cấp và đái máu đại thể. Các biến chứng này có tỷ lệ cao hơn đối với bệnh nhân nam có đái tháo đường. Tác giả lưu ý, việc tiến hành thăm dò niệu động học nên được thận trọng đối với bệnh nhân nam đái tháo đường.
Anh Huy