BS. Dương Đức Hùng- Viện Tim mạch, Bệnh viện Bạch Mai đã báo cáo ca lâm sàng nữ, 44 tuổi, vào viện vì khó thở khi gắng sức, phù hai chi dưới, chướng bụng. Kết quả siêm âm tim thấy trong lòng nhĩ phải có khối đậm âm đồng nhất, kích thước 70x45mm. Khối có cuống bám vào vách liên nhĩ, di động mạnh qua lỗ van ba lá kỳ tâm trương, chiếm gần hết lỗ van ba lá. Chụp cộng hưởng từ thấy nhĩ phải có khối kích thước 62x33mm; có cuống bám vào vách liên nhĩ, không liên quan đến tĩnh mạch chủ trên và tĩnh mạch dưới. Khối tăng mạnh tín hiệu ở thì STIR, giảm trên ảnh cine và ngấm thuốc ít sau tiêm, chức năng tim bình thường, các buồng tim không giãn.

Sau thực hiện nhiều xét nghiệm cận lâm sàng liên quan, bệnh nhân được chẩn đoán trước mổ là u nhày nhĩ phải (myxomas). Tiến hành phẫu thuật, chạy máy tuần hoàn ngoài cơ thể, mở nhĩ phải;khối lớn kích thước 6x4x3cm chiếm gần toàn bộ nhĩ phải và sa vào phần qua van ba lá xuống thất phải, khối màu nâu nhạt; chia múi, đặc, có cuống bám vào lỗ bầu dục với chân đường kính 5mm; không thấy xâm lấn tổ chức xung quanh. Tiến hành lấy u, cắt toàn bộ chân u cùng lỗ bầu dục, vá lại lỗ bầu dục bằng màng tim. Kiểm tra van ba lá kín, các lá van mềm mại. Thời gian chạy máy 45 phút, thời gian cặp động mạch chủ 20 phút. Bệnh nhân được rút nội khí quản ngày thứ nhất. Siêu âm kiểm tra sau mổ kết quả tốt, bệnh nhân được ra viện sau 1 tuần. Gan không to, hết phù, hết khó thở. Giải phẫu bệnh khẳng định chẩn đoán là u nhày.
BS.Dương Đức Hùng phân tích, u tim chiếm khoảng 0,2% tất cả các loại u trong cơ thể người, bao gồm u tim nguyên phát và thứ phát hay u di căn. Đối với u tim nguyên phát hiếm gặp và khoảng 75% trường hợp là lành tính; trong số đó 50% là u nhày. Các loại u lành tính khác có thể gặp là lipomas, fibromas, rhabdomyomas. Khối u ác tính nguyên phát thường gặp là sarcoma. Về u nhày, BS.Hùng cho biết đây là u thật sự, xuất phát từ tế bào trung mô của lớp nội tâm mạc. U nhày nhĩ phải là vị trí ít gặp, chiếm 20% các ca u nhày. U nhày có thể ở độ tuổi 15 đến 80 tuổi; nữ nhiều hơn nam; có 7% liên quan đến di truyền. U xảy ra ở nam giới trẻ tuổi và có nguy cơ tái phát sau phẫu thuật.
U nhày nhĩ phải thường xuất phát từ lỗ bầu dục hoặc vách liên nhĩ. U nhày thường đơn độc, chia nhiều thuỳ và có cuống. Về mặt đại thể, bề mặt u nhày thường mịn và chia múi, hình bầu dục, tròn. U thường có màu nâu nhạt. Mật độ u thay đổi từ cứng đến sền sệt. Đặc điểm vi thể của u là mạng lưới dày đặc các tế bào chế nhày, có thể tìm thấy các tế bào đa giác với tế bào ưa kiềm.
Không có các đặc điểm của u ác tính như phân chia, hoại tử hay tính đa hình. Các triệu chứng của u nhày nhĩ phải không điển hình và rất thay đổi, phụ thuộc vào kích thước, vị trí, độ di động của u và tư thế của bệnh nhân. Các triệu chứng không đặc hiệu của u như sốt, sụt cân, đau khớp, hiện tượng Raynaud, thiếu máu, tăng ampha globulinemia hay protein C; tăng tốc độ lắng máu; gần đây có tác giả nghiên cứu cho rằng u nhày sản sinh, giải phóng vào tuần hoàn các yếu tố viêm interlekin, gây ra các phản ứng viêm hay hiện tượng tự miễn. Những triệu chứng này thường mất đi khi cắt khối u.
Triệu chứng hay gặp ở người bệnh là khó thở (80%) và triệu chứng của suy tim phải. U nhày nhĩ phải gây tắc nghẽn van ba lá, gây ra triệu chứng suy tim phải, phù, gan to, cổ chướng, ascites, tĩnh mạch cổ nổi, ngất. Nghe tim có thể nghe được tiếng thổi tuỳ vào vị trí, kích thước, độ di động qua van nhĩ thất hay không, hoặc tư thế của người bệnh. BS.Hùng nhấn mạnh, siêu âm tim qua thành ngực là một phương pháp ít xâm lấn, có độ đặc hiệu lên đến 95% cho u nhày và độ đặc hiệu có thể lên đến 100% với siêu âm qua thực quản. Đối với chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ có thể có ích trong việc đánh giá vị trí của cuống u, liên quan của u với tổ chức xung quanh và các biến chứng liên quan. Chụp Xquang phổi và điện tim không đặc hiệu. Khi chẩn đoán là u nhày, theo BS.Hùng phải phẫu thuật cắt u cần được thực hiện càng sớm càng tốt để ngăn ngừa nguy cơ tắc mạch. Thường phẫu thuật là triệt căn và rất hiếm khi tái phát. Kỹ thuật cắt bỏ u không khó, chú ý clamp cả động mạch chủ và động mạch phổi do các mạch u có thể vỡ ra trôi lên phổi.
BS.Hùng nhận xét các đặc điểm phân biệt với khối u lành tính khác là u mỡ (lipomas) có đặc điểm khối đậm âm, đồng nhất, không ngấm thuốc khi tiêm. Rhabdomyomas thường nhỏ, nhiều khối nằm trong thành của tâm thất- Fibromas nằm trong thành vách liên thất hoặc thành tự do của thất trái.
Đối với huyết khối, nguyên nhân huyết khối trong tim do tổn thương lớp nội mạc, dòng máu bị ứ hoặc chảy chậm trong tim, hoặc do tình trạng tăng đông. Tổn thương nội mạc do kết quả của nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, phản ứng miễn dịch với cơ tim, hoá chất, tia xạ, các dụng cụ trong tim (máy tạo nhịp, chống rung…) hoặc kết quả của thải ghép. Nhĩ giãn, rung nhĩ hoặc tim co bóp yếu làm dòng máu lưu thông chậm gây ra huyết khối trong tim. BS.Hùng lưu ý, với một khối bất thường trong tim cần chẩn đoán phân biệt giữa huyết khối, u tim nguyên phát hay u di căn. Phương pháp siêu âm tim qua thành ngực hoặc thực quản, CT, MRI giúp chẩn đoán chính xác, từ đó có hướng điều trị phù hợp, tiên lượng bệnh đúng cho bệnh nhân.
Huy Hoàng