[Đăng ngày: 30/04/2016]

Xét nghiệm nước tiểu là một xét nghiệm thường quy, được chỉ định rất phổ biến trong thực tế sàng lọc bệnh cũng như thăm khám lâm sàng.

Xét nghiệm nước tiểu hiện nay đã được cải tiến, tự động hóa và phổ biến là xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu với que thử 10 thông số gồm: tỷ trọng nước tiểu, pH, số bạch cầu, nitrit, protein, glucose, các thể cetonic, urobilinogen, bilirubin và hồng cầu trong nước tiểu. Đây là một xét nghiệm có độ đặc hiệu cao, nhanh chóng giúp đánh giá nhanh, chính xác các yếu tố sinh hóa nước tiểu. Mặc dù vậy, xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu vẫn là xét nghiệm bán định lượng với nguyên lý do phản xạ tia sáng. Để xác định chính xác, nhiều phòng xét nghiệm vẫn tiến hành định lượng một số chỉ số trong nước tiểu.

            Từ tháng 1-5/2015 tác giả nghiên cứu Đào Huyền Quyên cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu phân tích hóa sinh nước tiểu theo các phương pháp khác nhau. Nghiên cứu thực hiện có 2 mục tiêu: (1) So sánh kết quả các thông số protein, glucose, hồng cầu và bạch cầu trong nước tiểu giữa phương pháp bán định lượng trên máy phân tích nước tiểu tự động và phương pháp định lượng. (2) Tìm hiểu mối tương quan của các chỉ số này giữa hai phương pháp.

            Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là chọn 118 mẫu nước tiểu của hai nhóm: nhóm đi kiểm tra sức khỏe và nhóm bệnh có kết quả xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu bất thường. Địa điểm nghiên cứu là Khoa Hóa sinh – Bệnh viện Bạch Mai. Thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015.

            Đối với phương pháp xác định các chỉ số nghiên cứu, xác định các chỉ số protein, glucose, hồng cầu, bạch cầu bằng máy phân tích nước tiểu tự động URISYS 2400 theo nguyên lý đo độ phản quang. Định lượng chỉ số protein niệu bằng hai phương pháp tủa với acid tricloaxetic 5% (TCA 5%) và trên máy AU 2700 theo nguyên lý so màu. Pyrogallo đỏ kết hợp với molypdate tạo thành 470nm, nếu có mặt của protein sẽ tạo thành phức màu xanh tím hấp thụ tối đa ở bước sóng 600nm. Đậm độ màu tỷ lệ thuận với nồng độ protein có trong mẫu. Định lượng glucose niệu trên máy AU 2700 theo phương pháp hexokinase. Máy soi cặn nước tiểu IQ 200 Elite đếm số lượng hồng cầu, bạch cầu bằng phương pháp dòng chảy chụp ảnh kỹ thuật số.

            Theo tác giả Đào Huyền Quyên, để tìm hiểu mối tương quan về kết quả protein niệu giữa 3 phương pháp, tác giả tiến hành so sánh kết quả tổng phân tích với kết quả định lượng bằng hai phương pháp theo nhóm kỹ thuật định lượng. Nhóm I là nhóm tổng phân tích cho kết quả bán định lượng, nhóm II là nhóm định lượng protein niệu bằng phương pháp tủa bằng TAC 5%, nhóm III là nhóm định lượng protein niệu trên máy AU 2700.

            Kết quả cho thấy 15 mẫu bệnh phẩm của những bệnh nhân khám sức khỏe cho kết quả protein niệu là âm tính với kỹ thuật tổng phân tích, được lựa chọn định lượng protein niệu bằng 2 phương pháp tủa bằng TCA 5% và trên máy AU 2700. Phương pháp bán định lượng cho kết quả âm tính khi nồng độ protein niệu <0,25g/L. Theo nguyên lý  của máy phân tích nước tiểu tự động urisys 2400 thì kết quả protein niệu âm tính khi nồng độ protein niệu <0,24g/L. Kết quả định lượng protein niệu của 15 mẫu trên cả 2 phương pháp  đều <0,25g/L. Chưa thấy sự khác biệt về kết quả protein niệu giữa nhóm I và II, nhóm I và III, nhóm II và III (p>0,05).

            Còn trong 85 mẫu tổng phân tích cho kết quả protein niệu là 0,25g/L; 0,75g/L; 1,5g/L; 5,0g/L được lựa chọn để nghiên cứu, có 31 mẫu của những người khám sức khỏe, 54 mẫu có bệnh lý về thận như viêm cầu thận, hội chứng thận hư, suy thận, đa u tủy xương. Các mẫu này đều được định lượng theo 2 phương pháp tủa bằng TCA 5% và trên máy AU 2700.

            Nghiên cứu phát hiện ở nhóm kết quả tổng phân tích protein niệu là 0,75g/L có 70% số mẫu định lượng bằng tủa TCA5%, 80% số mẫu định lượng trên máy AU 2700 cho kết quả cao hơn 0,75g/L. Có một mẫu định lượng bằng tủa TCA5% kết quả là 11g/L, định lượng trên máy AU 2700 kết quả là 7,22g/L. Ở nhóm kết quả tổng phân tích protein niệu là 1,5g/L có 81,3% số mẫu định lượng bằng tủa TCA5%, 75% số mẫu định lượng trên máy AU 2700 cho kết quả cao hơn 1,5g/L. Có một mẫu của bệnh nhân đa u tủy xương định lượng bằng tủa TCA5% kết quả là 8g/L, định lượng trên máy AU2700 kết quả là 6,3g/L. Ở nhóm kết quả tổng phân tích protein niệu là 5g/L có 76,1% số mẫu định lượng bằng tủa TCA5%, 73,9% số mẫu định lượng trên máy AU 2700 cho kết quả cao hơn 5g/L. Có 12 mẫu định lượng bằng tủa TCA và bằng máy AU 2700 đều cho kết quả >10g/L, thậm chí có mẫu có kết quả trên 50g/L.

            So sánh kết quả protein niệu trên kết quả tổng phân tích với các phương pháp định lượng cho thấy có trên 77% số bệnh nhân thuộc đối tượng khám sức khỏe và bệnh lý về thận có kết quả định lượng protein niệu cao hơn hoặc bằng kết quả protein niệu trên kết quả tổng phân tích. Trong số các bệnh nhân có bệnh lý về thận, hội chứng thận hư là bệnh có kết quả định lượng protein niệu theo phương pháp của bằng TCA5% chênh rất cao so với kết quả TPT. Có mẫu định lượng lên tới 84,0g/L trong khi kết quả TPT chỉ cho là 5g/L.

            Kết luận cho nghiên cứu, tác giả Đào Huyền Quyên nhấn mạnh xét nghiệm tổng phân tích chỉ cho kết quả tương đối của các chỉ số protein, glucose, hồng cầu và bạch cầu và chưa thấy có sự khác biệt có ý nghĩa về các chỉ số trên giữa các phương pháp. Tuy nhiên nên chỉ định thêm xét nghiệm định lượng protein trong các bệnh lý về thận. Có sự tương quan rất chặt chẽ giữa hai phương pháp định lượng là tủa bằng TCA5% và trên máy AU 2700 với r = 0,98. Có mối tương quan cao giữa glucose niệu theo phương pháp bán định lượng và glucose niệu theo phương pháp định lượng trên AU 2700 (r=0,8; p<0,05). Có mối tương quan trung bình giữa phương pháp bán định lượng và định lượng của các chỉ số hồng cầu, bạch cầu với r tương ứng là 0,41 và 0,48.

Tường Huân

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 160

Số lượt truy cập: 9369263

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang