
Tăng huyết áp (THA) và các yếu tố nguy cơ tim mạch đang gia tăng với tốc độ cao ở nước ta, là một gánh nặng tác động lớn và lâu dài đến người bệnh, gia đình cũng như xã hội. Tiến triển của THA trong cộng đồng thường được đánh giá qua các điều tra cắt ngang theo thời gian chứ ít được theo dõi dọc liên tục do những khó khăn về nguồn lực và cách tổ chức, giám sát thực hiện nhất là ở Việt Nam nên chỉ có thể suy đoán ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ tim mạch đến THA.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quang – Trường Đại học Y Hà Nội, Viện Tim Mạch Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu “Tiến triển huyết áp từ bình thường đến THA ở người độ tuổi 25 – 74 tại một số vùng nông thôn Việt Nam”.
Đối tượng nghiên cứu gồm 2362 người dân đã tham gia điều tra mô tả cắt ngang về THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch theo mô hình STEPs của Tổ chức Y tế Thế giới, tiến hành vào tháng 6 năm 2005. Những người đó đã được chọn theo mẫu ngẫu nhiên đơn từ danh sách người đang sống tại địa phương để đại diện cho quần thể dân cư trong độ tuổi từ 24 – 74 sống tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Tiêu chuẩn lựa chọn: Người được kết luận không có THA qua điều tra năm 2005.
Tiêu chuẩn loại trừ: Hiện đang có thai hoặc đang điều trị các bệnh nặng mạn tính (tim mạch hoặc nội khoa) có ảnh hưởng đến huyết áp hoặc không đồng ý tham gia lại nghiên cứu.
Đây là nghiên cứu dọc theo thời gian, danh sách họ tên và địa chỉ của 1901 người không THA được xuất ra từ hồ sơ gốc của 1362 người tham gia điều tra THA tháng 6 năm 2005 (độ tuổi 25-74). Vào tháng 12 năm 2007 (sau 2,4 năm), các điều tra viên đi đến từng nhà, hỏi từng người trong danh sách theo bộ câu hỏi và đo huyết áp lúc nghỉ bằng máy đo tự động (OMRON M4/H4) theo cùng quy trình điều tra năm 2005.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định xu thế huyết áp tăng trong cộng đồng dân cư Việt Nam khi theo dõi dọc theo thời gian, ngay cả trong quần thể ban đầu huyết áp bình thường, với xu hướng tốc độ tăng khi tuổi tăng và huyết áp ban đầu cao, dẫn tới tỷ lệ xuất hiện mới THA là 19,4% sau 2,4 năm. Tốc độ tăng hàng năm 0,8-1,1mmHg huyết áp tâm thu và 0,3-0,4mmHg huyết áp tâm trương ở nam và nữ trong quần thể qua nhiều điều tra cắt ngang tại Việt Nam trong 10 năm qua gần như chỉ bằng nửa so với tốc độ tăng huyết áp ở nhóm chung và bằng 1/3-1/4 trong nhóm huyết áp bình thường trong nghiên cứu này. Ngoài lý do hồi quy về giá trị trung bình, tốc độ gia tăng huyết áp nhanh chóng tại một vùng nông thôn Hà Nội như Ba Vì có thể lý giải bằng sự chuyển mình về kinh tế xã hội và gánh nặng của các yếu tố nguy cơ tim mạch khi thay đổi lối sống, cho thấy tầm quan trọng của giám sát tiến triển THA và gánh nặng của THA ở những nhóm người ban đầu được cho là bình thường, tưởng như nguy cơ thấp, nhất là ở người nhẹ cân. Dịch chuyển đường cong phân bố huyết áp trong cộng đồng cũng như tốc độ tăng huyết áp tâm thu nhiều hơn đáng kể so với huyết áp tâm trương cho thấy huyết áp tâm thu là yếu tố cần tập trung giám sát theo dõi nhiều ở cả người bệnh lẫn người thường cũng như phản ánh tính thường gặp của THA tâm thu đơn độc ở người cao tuổi, vốn được coi là có liên quan chặt chẽ với độ cứng của thành mạch máu. Tốc độ tăng nhanh huyết áp khi tuổi cao liên quan thế nào đến giao động huyết áp ở đối tượng này chưa thể trả lời trong nghiên cứu này và sẽ cần thêm nhiều nghiên cứu khác sâu hơn để trả lời.
Mặc dù một vài nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa huyết áp và uống nhiều rượu ít rõ rệt ở người trẻ tuổi và không phải lúc nào cũng theo kiểu tuyến tính nhất là đối với những hình thái uống dồn dập theo sự kiện thay vì uống đều hàng ngày, tuy nhiên nghiên cứu đã ghi nhận ảnh hưởng của uống rượu nhiều lên sự xuất hiện của huyết áp sau khi đã loại trừ tác động của các yếu tố nguy cơ tim mạch ở nam giới cho thấy tầm quan trọng của việc hạn chế tiêu thụ rượu để dự phòng THA ở nam giới, vốn là đối tượng đã sẵn có nguy cơ tiến triển THA nhiều hơn nữ và nhu cầu phải tối ưu nội dung tuyên truyền theo từng đối tượng trong cộng đồng.
Đối với yếu tố quá cân hoặc béo phì, BS Quang báo cáo chỉ có thay đổi cân nặng là ảnh hưởng đến tiến triển của HA chứ không phải thay đổi vòng bụng hay vòng mông, điều này có thể lý giải bằng ở người gầy tác động của béo bụng lên HA đến muộn hơn và chậm hơn so với tăng cân. Hơn thế nữa, nghiên cứu này cũng cho thấy tăng cân dù chỉ chút ít vẫn là yếu tố nguy cơ quan trọng làm tăng HA ở mọi đối tượng dù nhẹ cân, bình thường hay quá cân và béo phì. Những kết quả này gợi ý cho thấy các chiến lược can thiệp tập trung vào cải thiện lối sống như tránh không tăng cân, hạn chế uống rượu cũng có thể áp dụng hiệu quả đối với người gầy để làm chậm tiến triển của THA và dự phòng các biến cố tim mạch muộn.
Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế tiềm tàng có thể làm giảm khả năng khái quát kết quả nghiên cứu cho các vùng hoặc đối tượng khác: như đặc thù riêng của Ba Vì, một vùng nông thôn nhiều người nhẹ cân có ít nhiều sai khác với các địa phương. Mặc dù áp dụng cùng một quy trình và thiết bị đo với điều tra ban đầu năm 2005, giá trị huyết áp thu thập được còn có thể bị ảnh hưởng bởi các sai số hệ thống (do thiết bị), sai số ngẫu nhiên hoặc các biến thiên huyết áp theo thời gian (ngày, tháng, mùa hay năm), vốn không thể tránh khỏi hoàn toàn trong các nghiên cứu dịch tễ cộng đồng.
Kết luận nghiên cứu BS Nguyễn Ngọc Quang cho rằng huyết áp ban đầu dù bình thường vẫn có khả năng tiến triển nhanh, mạnh thành THA tại một vùng nông thôn như Ba Vì. Tỷ lệ xuất hiện THA mới trong cộng đồng người huyết áp bình thường là 19,4% sau 2,4 năm. Trong quần thể có huyết áp bình thường ở độ tuổi từ 25-74, huyết áp tâm thu và tâm trương tiến triển trung bình hàng năm lần lượt ở mức 3,2 + 0,2mmHg và 1,5 + 0,2mmHg ở nam; 2,9 + 0,2mmHg và 1,2 + 0,1mmHg ở nữ. Tốc độ tiến triển huyết áp tăng nhanh hơn theo tuổi, theo giai đoạn huyết áp ban đầu và mức tăng cân nặng ở cả hai giới nhất là đối với huyết áp tâm thu. Tuổi và giai đoạn huyết áp ban đầu là các yếu tố dự báo xuất hiện THA mới ở cả 2 giới trong khi uống nhiều rượu và tăng cân là yếu tố dự báo xuất hiện THA mới chỉ ở nam. Kết quả đã cho thấy tầm quan trọng của theo dõi huyết áp thường xuyên và tác động của thay đổi lối sống trong dự phòng tiến triển THA tại cộng đồng.
Nguyên Khải