[Đăng ngày: 31/07/2016]
Già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng trên thế giới. Tổng số người cao tuổi của toàn cầu sẽ tăng gấp đôi so với hiện nay vào năm 2050.
Trong số tăng này, đa số sẽ được đóng góp từ châu Á. Việt Nam có tốc độ già hóa nhanh nhất trong các nước ASEAN với đa số người cao tuổi (NCT) sống ở nông thôn. Sức khỏe NCT ở nước ta nhìn chung đã được cải thiện nhưng lại giảm trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất. Tỷ lệ mới mắc bệnh mạn tính ngày càng tăng. Ở NCT, bệnh phổi mạn tính chỉ đứng sau bệnh tim mạch và bệnh về khớp về tỷ lệ mắc.
Hiện có khoảng 600 triệu người trên thế giới mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) với tỷ lệ mắc là 2-11%. Tỷ lệ này có chiều hướng gia tăng làm tăng gánh nặng cho người bệnh, gia đình và xã hội. Số người mắc bệnh sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này và BPTNMT sẽ đứng hàng thứ 5 trong các bệnh hay gặp vào năm 2020. Trong các nguyên nhân gây tử vong, BPTNMT đứng hàng thứ 6 vào năm 1990 và dự kiến sẽ đứng hàng thứ 3 vào 2020.
Trong khối ASEAN, tỷ lệ hiện mắc BPTNMT ở người ≥ 30 tuổi được ước tính là 6,3% vào 2003. Trong đó, Hong Kong và Singapore có tỷ lệ thấp nhất là 3,5% trong khi nước ta có tỷ lệ cao nhất là 6,7%. Trong điều tra toàn quốc ở nước ta vào năm 2006-2007, ước tính có khoảng 1.356.048 người > 15 tuổi mắc bệnh. Tỷ lệ mắc là 4,2% ở người ≥ 40 tuổi và 9,2% ở người ≥ 65 tuổi. Tỷ lệ mắc ở vùng nông thôn cao hơn ở thành thị và miền núi. Lứa tuổi, giới, hút thuốc lá/thuốc lào và sử dụng vật liệu đun nấu gây khói đã được xác định là những yếu tố nguy cơ của mắc BPTNMT.
BPTNMT liên quan tới môi trường sống và có thể phòng và chữa được. Phòng và quản lý bệnh sẽ làm chậm tiến trình bệnh, giảm biến chứng, giảm chi phí chăm sóc y tế, nâng chất lượng cuộc sống của người bệnh và giảm nguy cơ tử vong. Các chương trình phòng và quản lý bệnh phổi mạn tính ở cộng đồng sẽ giúp giảm gánh nặng cho ngành y tế, cho xã hội và làm tăng chất lượng dân số. Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ sẽ góp phần phòng chống mắc bệnh và chậm tiến triển của bệnh.
NCT ở nông thôn thường có điều kiện kinh tế hạn chế, các bệnh phổi mạn tính thường ít được quan tâm đúng mức, nên thường được phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, hiệu quả điều trị kém. Cho đến nay, các nghiên cứu về BPTNMT tại cộng đồng ở nước ta còn ít, nhất là trên NCT ở vùng nông thôn. Các yếu tố nguy cơ cũng thường không được đề cập đầy đủ.
Từ tháng 7-9/2014, tác giả Lê Văn Hợi Bệnh viện phổi trung ương tiến hành nghiên cứu “Một số ảnh hưởng đến mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi tại nông thôn”.
Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi từ 60 trở lên tại 3 xã huyện Ba Vì Hà Nội. Kết quả có 376 đối tượng tham gia nghiên cứu, đa số là nữ, ≥ 70 tuổi, dân tộc Kinh, trước đây làm ruộng, hiện sống cùng người thân. Tỷ lệ hút thuốc lá/thuốc lào ở NCT là 12%, trong đó đa số hút > 20 bao/năm. Số NCT sống trong hộ sử dụng vật liệu đun nấu gây khói chiếm hơn một nửa. Đa số NCT tham gia đun nấu chính. Hơn ¼ số NCT thường xuyên hít phải chất gây cay, hắc, hôi thối. Đa số NCT có bệnh mạn tính kèm theo trong đó phổ biến nhất là mắc 1-2 bệnh. Sự khác biệt về tỷ lệ NCT theo tình trạng hút thuốc, tham gia đun nấu, hít phải chất kích thích và mắc bệnh mạn tính khác đều có ý nghĩa thống kê.
Theo phân tích của tác giả Lê Văn Hợi, tỷ lệ hút thuốc trong nghiên cứu này thấp hơn so với kết quả của một điều tra toàn quốc (36% ở nhóm 55-64 tuổi, 33% ở nhóm ≥ 65 tuổi) vào 2006-2007. Điều này có thể là do đối tượng nghiên cứu đa số là nữ nên tỷ lệ hút thuốc không cao. Tuy nhiên, trong số hút thuốc, đa số (67,4%) hút > 20 bao/năm. Như vậy, phòng chống tác hại do hút thuốc ở NCT cần được lưu ý. Hơn nữa, những can thiệp này cần được khởi đầu triển khai sớm ở lứa tuổi trước khi những đối tượng can thiệp trở thành NCT.
Trong nghiên cứu này, hút thuốc được khẳng định lại là một yếu tố nguy cơ của mắc BPTNMT. Điều này phù hợp với kết quả của một số nghiên cứu trước đây, cả trên phạm vi toàn quốc và ở Hà Nội. Trên thế giới, 90-95% người mắc BPTNMT là do hút thuốc. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ hút thuốc trong nhóm mắc bệnh chỉ là 25,8%, thấp hơn nhiều so với tình hình trên thế giới. Như vậy, bên cạnh hút thuốc, có thể còn có những nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ quan trọng khác dẫn đến mắc BPTNMT.
Trong nhóm mắc bệnh, đa số (71,4%) hút thuốc > 20 bao/năm. Kết quả này cao hơn ở một nghiên cứu khác cho thấy 49% người mắc BPTNMT đang khám chữa bệnh tại một bệnh viện trung ương có hút thuốc > 20 bao/năm. Mặt khác, những người mắc bệnh ở cộng đồng, mà hầu hết chưa biết tình trạng mắc bệnh trước đó, còn ở giai đoạn nhẹ. Những người bệnh đang khám chữa bệnh ở bệnh viện tuyến trung ương thường ở giai đoạn nặng, đợt cấp. Những đặc điểm này gợi ý có một số người bệnh thuộc nhóm hút thuốc > 20 bao/năm và bị bệnh nặng đã tử vong.
Tỷ lệ NCT phơi nhiễm với khói của chất đốt hữu cơ trong nghiên cứu này còn khá cao. Tỷ lệ mắc bệnh ở người sống trong hộ sử dụng chất đốt hữu cơ có khuynh hướng cao hơn ở nhóm đối lập. Kết quả này gợi ý khói của chất đốt hữu cơ là một yếu tố ảnh hưởng đến mắc BPTNMT ở người cao tuổi.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý, tình trạng đồng mắc của BPTNMT với các bệnh mạn tính khác đã được ghi nhận rộng rãi, trong đó phổ biến nhất là các bệnh tim mạch. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ mắc BPTNMT ở NCT có khuynh hướng tăng lên theo số bệnh mạn tính kèm theo. Bệnh mạn tính kèm theo được khẳng định là một yếu tố nguy cơ của BPTNMT. Điều này có thể do tình trạng sức khỏe chung suy giảm ở những người mắc bệnh mạn tính khác là điều kiện thuận lợi để BPTNMT phát triển ở NCT. Như vậy, phòng chống BPTNMT cần gắn liền và lồng ghép việc phòng chống các bệnh mạn tính khác ở NCT./.
Ngô Thanh
     
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 267

Số lượt truy cập: 9361340

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang