[Đăng ngày: 03/07/2018]
Amphetamine và các chất dạng Amphetamine thuộc nhóm kích thích hệ thần kinh trung ương, sử dụng trong y tế từ năm 1932 trong điều trị xung huyết mũi, tăng động giảm chú ý, chứng ngủ rũ, Parkinson sau viêm não, trầm cảm, ngộ độc các thuốc gây yên dịu… Sử dụng với liều nhỏ không thường xuyên mang lại cảm giác tỉnh táo đầy sinh lực và tự tin. Tuy nhiên, nếu sử dụng Amphetamine và các chất dạng Amphetamine thường xuyên, kéo dài thì mức độ lệ thuộc thường cao và tăng nhanh, gây ra những hậu quả nặng nề về cơ thể và tâm thần cho người sử dụng.

Xu hướng sử dụng và lạm dụng Amphetamine và các chất dạng Amphetamine ở Việt Nam đang ngày càng phổ biến và lan tràn với tốc độ nhanh. Đối tượng sử dụng ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng gia tăng, tỷ lệ sử dụng chất dạng Amphetamine chiếm 1% các chất ma túy, trong đó tỷ lệ học sinh sinh viên chiếm 3,2% số người sử dụng. Tới năm 2013, tỷ lệ này là 1,5%, trong đó tỷ lệ học sinh sinh viên chiếm 7,2%. Số người tiêm chích Ma túy chiếm tỷ lệ đáng kể, là nguy cơ lây truyền HIV/AIDS.
Từ tháng 3/2013 đến tháng 10/2013, tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Dũng cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc quá trình điều trị báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng hội chứng cai các chất dạng Amphetamine”. Đối tượng nghiên cứu gồm 33 bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện các chất dạng Amphetamine điều trị nội trú tại Viện sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai.

Bác sĩ Dũng phân tích báo cáo, có 75,8% bệnh nhân có biểu hiện rối loạn loạn thần: trong đó hoang tưởng chếm tỷ lệ 56%; ảo giác chiếm tỷ lệ 16%; hoang tưởng và ảo giác chiếm tỷ lệ 28%. Có 4 bệnh nhân vào với lý do cai tự nguyện chiếm tỷ lệ 12,1%. Có 4 bệnh nhân vào trong tình trạng nhiễm độc cấp chiếm tỷ lệ 12,1%. Các biểu hiện tâm thần trong nhóm này gồm có: khoái cảm, cảm giác nhiều năng lượng (12,1%); hành vi định hình lặp đi lặp lại (6,1%); ảo giác (9,1%). Các biểu hiện cơ thể trong tình trạng nhiễm độc của các đối tượng nghiên cứu là: tăng nhịp tim, tăng huyết áp (12,1%); vã mồ hôi và rét run (9,1%). Các triệu chứng nhiễm độc này xuất hiện sau khi bệnh nhân sử dụng chất dạng Amphetamine, ở mức độ nhẹ và thuyên giảm nhanh sau 24 giờ.

Tác giả nghiên cứu cho biết, bệnh nhân chỉ vào viện khi có các triệu chứng loạn thần rõ rệt và ảnh hưởng đến cảm xúc hành vi nặng. Vì vậy triệu chứng cai khó đánh giá trong bệnh cảm loạn thần, và đồng thời việc điều trị các trạng thái loạn thần cũng tác động làm giảm bớt hoặc ngăn chặn sự xuất hiện hội chứng cai khi bệnh nhân vào viện không được sử dụng nữa. Mặc dù vậy cũng có một số lượng nhỏ 12,1% bệnh nhân nhận thức được ảnh hưởng tác hại của chất dạng Amphetamine để vào cai chủ động. Đa số các triệu chứng cai trong nghiên cứu xuất hiện trung bình vào ngày thứ 2 sau nhập viện.

Trong nghiên cứu kết quả cho thấy, sau khi bệnh nhân ngừng sử dụng chất dạng Amphetamine thường cảm thấy lo lắng, chiếm tỷ lệ cao nhất 78,8%; cảm thấy căng thẳng chiếm tỷ lệ 69,7%; có 60,6% bệnh nhân có cảm giác buồn chán. Các biểu hiện triệu chứng của trầm cảm phần lớn là giảm quan tâm thích thú hoặc giảm năng lượng chiếm tỷ lệ 78,8%; khí sắc trầm chiếm tỷ lệ 75,8%; giảm tập trung chú ý chiếm tỷ lệ 69,7%; có 36,4% bệnh nhân có ý tưởng tự sát. Theo nghiên cứu của Thomas F.Newton, cảm giác căng thẳng khó chịu chiếm tỷ lệ 78%, các đối tượng nghiên chứu có biểu hiện khí sắc trầm chiếm tỷ lệ 50%. Theo dõi biểu hiện cảm xúc của đối tượng sau ngừng sử dụng các chất dạng Amphetamine trong nghiên cứu của Cantwell co thấy, tỷ lệ triệu chứng trầm cảm chiếm 50%, cảm giác có tội chiếm tỷ lệ 2%, cảm giác mất năng lượng hoạt động chiếm tỷ lệ 22%, tình trạng căng thẳng khó chịu chiếm tỷ lệ 78%. Các đối tượng trong nghiên cứu của chúng tôi được đánh giá trầm cảm theo thang Beck, phần lớn có mức độ trầm cảm là nhẹ và vừa chiếm tỷ lệ 42,5%; trầm cảm mức độ nặng chiếm tỷ lệ 24,2%; không có trầm cảm chiếm tỷ lệ 24,2%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của McGregor: trầm cảm mức độ vừa chiếm tỷ lệ 48%, mức độ nặng chiếm tỷ lệ 24%, mức độ nhẹ chiếm tỷ lệ 14%, không trầm cảm chiếm tỷ lệ 14%. Triệu chứng trầm cảm này thuyên giảm sau 1-2 tuần, một số bệnh nhân triệu chứng này kéo dài hơn 3 tuần.

Khi đánh giá biểu hiện lo âu trên thang Zung, BS. Dũng cho biết có 51,5% bệnh nhân có biểu hiện lo âu bệnh lý; bệnh nhân không có lo âu chiếm tỷ lệ 48,5%. Các triệu chứng lo âu, căng thẳng diễn biến dao động trong tuần đầu tiên khi ngừng sử dụng chất, là yếu tố thúc đẩy người bệnh đi tìm chất để sử dụng. Và đồng thời các biểu hiện của triệu chứng trầm cảm: buồn chán, mệt mỏi chậm chạp, cảm giác mất năng lượng, giảm quan tâm thích thú, là các yếu tố gợi lại hình ảnh về sử dụng chất để giải quyết nhanh tình trạng này do thiếu chất gây ra.

Thông thường các triệu chứng cai xuất hiện nhẹ và ít được để ý tới. Nhưng các triệu chứng trầm cảm trong cai là khá thường gặp, ý tưởng tự sát chiếm một tỷ lệ đáng kể. Các biểu hiện của trầm cảm trong cai chất dạng Amphetamine thường xuất hiện sau giai đoạn phản ứng tức thời của não do thiếu cung cấp chất dạng Amphetamine và thường diễn ra trong khoảng thời gian ngắn nên không đáp ứng đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn trầm cảm. Trong nghiên cứu BS.Dũng lưu ý, bệnh nhân đã được hỏi về tiền sử và loại trừ các bệnh lý trầm cảm trước đó. Vì vậy, trên thực hành lâm sàng, khi chẩn đoán hội chứng cai chất dạng Amphetamine cần lưu ý tới các biểu hiện trầm cảm. Một số các triệu chứng nguy hiểm cần được quan tâm và phát hiện sớm. Đó là các ý nghĩ bi quan, cảm giác có tội lỗi, ý tưởng tự sát, là các dấu hiệu nguy hiểm có thể dẫn tới hành vi tự sát, hủy hoại bản thân.
Trần Hưng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 194

Số lượt truy cập: 9289255

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang