[Đăng ngày: 12/07/2018]
Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới cả ở các nước phát triển cũng như chưa phát triển. Bệnh cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nữ giới thuộc các nước kém phát triển và đứng thứ hai ở các nước phát triển sau ung thư phổi. 

Theo GLOBOCAN 2012, ước tính năm 2012 có 1,67 triệu ca ung thư vú mới mắc ở nữ và 522.000 ca tử vong. Mặc dù công tác sàng lọc và chẩn đoán sớm ngày càng được quan tâm tuy nhiên  vẫn còn bệnh nhân đến bệnh viện đã ở giai đoạn muộn do triệu chứng lâm sàng nghèo nàn. Về điều trị, phẫu thuật vẫn đóng vai trò chính, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân giai đoạn I-III.  Hóa chất ngoài tác dụng bổ trợ còn có vai trò tân bổ trợ, điều trị triệu chứng, xạ trị làm giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ, tại vùng. Bên cạnh đó, điều trị nội tiết và điều trị miễn dịch cũng là các điều trị cơ bản, mang lại nhiều kết quả tốt. Khoa Ung bướu và Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội được thành lập từ 2009, đến nay cơ sở đã tiếp nhận điều trị một số lượng lớn bệnh nhân ung thư vú tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện để có cái nhìn toàn cảnh về bệnh ung thư vú.

Từ năm 2009 đến 2014, nhóm tác giả nghiên cứu Mai Thị Kim Ngân cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả hồi cứu một chùm bệnh báo cáo nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp điều trị ung thư vú”. Đối tượng nghiên cứu có 140 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I-III, được chẩn đoán xác định ung thư biểu mô tuyến vú bằng mô bệnh học, xếp giai đoạn I-III. Tác giả nghiên cứu báo cáo, tỷ lệ ung thư vú khá thấp ở phụ nữ dưới 40 tuổi, tuy nhiên tỷ lệ này tăng lên theo tuổi của phụ nữ. Trong nghiên cứu, tuổi trung bình của bệnh nhân là 51,7+10,9, trong đó bệnh nhân cao tuổi nhất được chẩn đoán là 85 và thấp nhất là 27. Hơn 80% bệnh nhân có độ tuổi từ 40 đến 65 tuổi. Vì vậy, hầu hết các nước đều khuyến cáo sàng lọc ung thư vú cho phụ nữ sau 40 tuổi. Với các bệnh nhân đã được chẩn đoán ung thư vú, tuổi cũng là một trong các yếu tố tiên lượng độc lập.

Theo tác giả nghiên cứu, ở các nước có chương trình sàng lọc tốt, bệnh nhân được chẩn đoán chủ yếu dựa trên các bất thường trên X-quang tuyến vú tuy nhiên vẫn có 15% bệnh nhân không có các dấu hiệu bất thường trên phim chụp. Hơn nữa, các bệnh nhân dưới 40 tuổi thường không tham gia các chương trình sàng lọc thường xuyên, các bệnh nhân này thường tự sờ thấy khối ở vú, có hay không có sự thay đổi của da. Đặc điểm cổ điển của tổn thương ung thư vú là khối chắc, không di động, bờ không đều và chủ yếu là đơn ổ. Tuy nhiên, những đặc điểm này không đủ độ tin cậy để phân biệt u lành với u ác. Biểu hiện của bệnh tiến triển tại chỗ tại vùng bao gồm các dấu hiệu như sờ thấy hạch nách hay các dấu hiệu thay đổi của da: phù, dày da, sần da cam. Tại Việt Nam, chương trình sàng lọc ung thư vú chưa được triển khai rộng rãi và các triệu chứng thường nghèo nàn vì vậy hầu hết bệnh nhân đến viện vì tự sờ thấy u ở vú. Bên cạnh đó, một số bệnh nhân còn có các biểu hiện như đau vùng vú, thay đổi da trên vú, chảy dịch núm vú, tụt núm vú,…

Đối với triệu chứng thực thể, tác giả báo cáo tỷ lệ u vú trái cao hơn u vú phải, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê; tỷ lệ đơn ổ chiếm 92,9% và nhiều nhất là ¼ trên ngoài chiếm 55,4%; các khối u chủ yếu là các khối chắc (97,1%), ranh giới không rõ (96,2%) và các kích thước u phần lớn từ 2-5cm (66,4%). 
Đối với kết quả cận lâm sàng, dấu hiệu cổ điển của ung thư vú trên X-quang tuyến vú là sự có mặt của một khối mô mềm hoặc hình ảnh tăng đậm độ và vôi hóa lan tỏa. Đặc điểm đặc hiệu nhất của ung thư vú là một khối mô mềm bờ tua gai, tỉ lệ gần 90% biểu hiện của ung thư vú xâm nhập. Siêu âm chủ yếu để phân biệt khối dạng đặc hay nang tuy nhiên phương pháp này góp phần phân biệt u lành với u ác. Đặc điểm ác tính trên siêu âm gồm: khối giảm âm, bờ tua gai, gốc cạnh tổn thương chiều cao lớn hơn chiều rộng, có calci hóa bên trong, phân loại BIRADs là đánh giá chủ quan của các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh dùng để ước lượng tỷ lệ nguy cơ ung thư của bệnh nhân trên X-quang và siêu âm tuyến vú, giá trị BIRADs nghi ngờ là 4a, 4b, 4c và 5 với khả năng ung thư tăng dần. MRI thường được sử dụng để sàng lọc ở các phụ nữ nguy cơ cao. Mặc dù gần như tất cả các ung thư vú xâm nhập đều tăng hấp thu Gadolinium nhưng dấu hiệu này không đủ đặc hiệu để các bác sĩ có thể không cần sinh thiết. Các đặc điểm nghi ngờ ung thư vú trên MRI gồm: khối bờ không đều hoặc tua gai, tăng hấp thu Gadolinium không đồng nhất và có các vách bên trong. Trong nghiên cứu, độ nhạy của X-quang và siêu âm lần lượt là 86,4 và 87,8%. Tỷ lệ này khá cao, biểu hiện bằng giá trị BIRADs 4-5 trên các kết quả đọc. Có 16 bệnh nhân được chụp MRI tuyến vú, trong đó có 15 bệnh nhân chiếm 93,8% có các dấu hiệu nghi ngờ UTV, chứng tỏ MRI có độ nhậy cao trong chẩn đoán.

Đối với kết quả của tế bào học và sinh thiết kim mặc dù các phương pháp chẩn đoán có độ nhạy cao trong việc phát hiện các khối u vú nhưng độ đặc hiệu không cao. Vì vậy, để chẩn đoán UTV, các bác sĩ còn cần phải áp dụng các phương pháp giải phẫu bệnh như tế bào học chọc hút kim nhỏ FNA, sinh thiết kim, sinh thiết mở hoặc sinh thiết tức thì trong mổ. Theo bài viết tổng quan của Mitra về FNA, phương pháp này có độ nhạy từ 77%-97% tùy từng nghiên cứu và độ đặc hiệu 92-99%. Trong nghiên cứu, tác giả không đánh giá được độ đặc hiệu của FNA và sinh thiết kim. Về độ nhậy, cả 2 phương pháp đều có giá trị cao lần lượt là 87,1% và 97,6%. Giá trị nồng độ CA 15-3: giá trị CA 15-3 không đặc hiệu chẩn đoán UTV, tuy nhiên marker này tăng cao sau điều trị có ý nghĩa gợi ý bệnh tái phát, tiến triển. Ở người bình thường, CA15-3 nhỏ hơn 30 UI/ml. Trong nghiên cứu này, đánh giá CA15-3 trước mổ thấy 82,9% bệnh nhân có giá trị bình thường.

Tác giả phân tích, các thể mô bệnh học khác nhau được phân biệt dựa trên các đặc điểm vi thể và hành vi sinh học. UTBM thể ống xâm nhập là thể phổ biến nhất của UTBM tuyến vú xâm nhập, có tỷ lệ từ 70-80%. Thể tiểu thùy xâm nhập ước lượng chiếm khoảng 8%; hỗn hợp cả thể ống và tiểu thùy khoảng 7%. Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, gặp 79,2% bệnh nhân UTV thể ống xâm nhập, 10% thể tiểu thùy. Giá trị này phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới cũng như các nghiên cứu ở các địa điểm khác tại Việt Nam. Thụ thể nội tiết và Her-2/neu là không chỉ là yếu tố liên quan đến quyết định điều trị mà còn là yếu tố tiên lượng của bệnh nhân UTV. Theo Basu, bệnh nhân có ER và PR dương tính có thời gian sống thêm tốt nhất và giảm được 50% nguy cơ tử vong so với nhóm có ER, PR âm tính. Ngược lại, các bệnh nhân có bộc lộ quá mức Her-2/neu lại có kết quả điều trị không tốt. Trong nghiên cứu, tỷ lệ có ER hoặc PR dương tính 63,6% và Her-2/neu (+) là 30%.

Tỷ lệ giai đoạn bệnh: giai đoạn bệnh được chẩn đoán dựa trên các yếu tố: u nguyên phát (T), hạch (N) và tình trạng di căn xa. Giai đoạn càng muộn, tiên lượng càng xấu. Tình trạng hạch nách là yếu tố tiên lượng độc lập mạnh nhất trong UTV, thời gian sống toàn bộ càng giảm khi số lượng hạch nách dương tính càng tăng. Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành đánh giá một số yếu tố xem xét mối liên quan với tình trạng di căn hạch thấy đặc điểm của u nguyên phát có liên quan có ý nghĩa thống kê; T càng cao tỷ lệ di căn hạch nách càng tăng.
Thanh Tùng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 194

Số lượt truy cập: 9289255

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang