
Từ tháng 01-9/2015, BsCKII Nguyễn Ngọc Huy- Khoa Nhi Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành nghiên cứu “Giá trị xét nghiệm procalcitonin trong viêm phổi ở trẻ” với mục tiêu tìm hiểu mối liên hệ giữa nồng độ procalcitonin với một số các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh.
Theo Bs Huy, nghiên cứu đã được thực hiện ở 228 bệnh nhi là những trẻ có độ tuổi từ 2 tháng đến 60 tháng được chẩn đoán viêm phổi. Đối tượng nghiên cứu được định lượng về nồng độ procalcitonin tại khoa sinh hóa – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa, nồng độ procalcitonin được định lượng và đánh giá với các khoảng giá trị nhỏ hơn 0,5ng/ml; 0,5-2ng/ml và lớn hơn 2ng/ml theo phương pháp Elecsys Brahms. Xét nghiệm được thực hiện cùng lúc ngay khi trẻ nhập viện.
Theo phân tích của Bs Nguyễn Ngọc Huy, đa số trẻ nhập viện trong nghiên cứu có nồng độ procalcitonin < 0,5ng/ml với tỷ lệ gần 58% đối tượng nghiên cứu vì vậy nghĩ nhiều đến nguyên nhân của viêm phổi do virut là nguyên nhân chủ yếu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nồng độ procalcitonin máu có liên quan chặt chẽ với mức độ nặng và bệnh nhân bệnh viêm phổi, nồng độ procalcitonin máu tăng dần theo mức độ nặng của bệnh. Có hơn 68% trẻ viêm phổi có procalcitonin máu <0,05ng/ml và có tới 75% trẻ viêm phổi rất nặng có procalcitonin máu >2ng/ml.
Một phát hiện khác là nhiệt độ trung bình lúc mới vào viện của nhóm nghiên cứu gia tăng theo nồng độ procalcitonin máu – Nhiệt độ cơ thể càng cao gợi ý mức độ nhiễm khuẩn càng nặng. Tần số thở trung bình ở nhóm có procalcitonin máu > 2ng/ml tăng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có procalcitonin máu, nếu tần số thở < 50 lần/phút thì gợi ý khả năng viêm phổi là do virus.
Các triệu chứng rút lõm ngực và phập phồng cánh mũi ở nhóm có procalcitonin máu < 0,5ng/ml chiếm tỷ lệ rất thấp (18,18% và 4,55%) so với nhóm còn lại có ý nghĩa thống kê, điều đó có nghĩa là 2 triệu chứng này xuất hiện trong bệnh cảnh viêm phổi do vi khuẩn nhiều hơn là do virus. Triệu chứng ran phế nang chiếm tỉ lệ cao ở phân nhóm có nồng độ procalcitonin máu ≥ 0,5ng/ml (66,67% ở nhóm procalcitonin 0,5-2 ng/ml và 80% ở nhóm có procalcitonin máu >2ng/ml), điều đó cho thấy triệu chứng ran phế nang thường xuất hiện nhiều hơn ở nhóm viêm phổi do vi khuẩn.
Bs Huy cũng cho biết triệu chứng rút lõm lồng ngực chiếm tỉ lệ cao ở nhóm có nồng độ procalcitonin tăng từ 0,5-2ng/ml. Triệu chứng phập phồng cánh mũi tăng thuận chiều theo nồng độ procalcitonin máu: 4,55 (procalcitonin < 0,5ng/ml), 16,67 (procalcitonin từ 0,5-2ng/ml), 25 (procalcitonin >2ng/ml).
Triệu chứng ran phế nang gia tăng theo nồng độ procalcitonin máu: 40,91% ở nhóm có nồng độ procalcitonin máu ≥ 0,5ng/ml, 66,67% ở nhóm procalcitonin 0,5-2ng/ml và 80% ở nhóm có procalcitonnin máu >2ng/ml). Số lượng bạch cầu gia tăng không có ý nghĩa thống kê theo mức độ tăng procalcitonin máu. Đa số các trường hợp có hình ảnh X quang phổi thâm nhiễm phế nang đều có procalcitonin máu tăng.
Viêm phổi là bệnh thường gặp ở trẻ em, một báo cáo năm 2006 cho thấy bệnh cơ quan hô hấp chiếm 37,4%, trong đó viêm phổi chiếm 79%, viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên thế giới, đặc biệt là ở trẻ em và người già. Theo số liệu báo cáo của UNICEF và WHO, năm 2011 ở Việt Nam có khoảng 1,3 triệu trẻ em bị viêm phổi hàng năm, mỗi ngày trung bình có khoảng 5 trẻ em bị tử vong vì viêm phổi. Viêm phổi có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên gồm cả virus, vi khuẩn, ký sinh trùng; tuy vậy việc xác định các nguyên nhân này không phải là dễ dàng khi kỹ thuật chẩn đoán bằng sinh học phân tử còn giới hạn ở nhiều trung tâm xét nghiệm. Đã có rất nhiều nghiên cứu trước đây với mục đích xác lập mới liên quan giữa lâm sàng và các biểu hiện lâm sàng nhằm sớm định hướng tác nhân gây bệnh. Theo báo cáo của Hội nghị bàn tròn về nhiễm khuẩn huyết tại Canada lần thứ 5 vào tháng 10/2000, người ta phân loại các chất chỉ điểm sinh học được sử dụng trong chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết bao gồm procalcitonin, Interleukin 6(IL-6), số lượng bạch cầu, Endotoxin, C-Reactive Protein, HLA-DR, Protein C, Interleukin 10HMG-1. Trong số những chất nói trên người ta nhận thấy: IL-6, CRP có thể tăng thoáng qua bởi nhiều kích thích khác hơn là nhiễm khuẩn, mặt khác endotoxin không cho biết mức độ nặng của quá trình viêm…trong khi Procalcitonin có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với các chất chỉ điểm sinh học khác. Đây là một chất chỉ điểm sinh học cho nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết. Procalcitonin được sản xuất chuyên biệt bởi nhiễm trùng không do virus, không bị ảnh hưởng bởi nhiễm virus hoặc đáp ứng tự miễn khác, thời gian bán hủy dài, nồng độ trong máu độc lập với chức năng thận, điều này đặc biệt quan trọng khi biện luận, đánh giá kết quả. Những nghiên cứu về lâm sàng cho thấy procalcitonin giúp phân biệt được có nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn. Nồng độ Procalcitonin thấp có giá trị tiên lượng âm tính cao để loại trừ nhiễm khuẩn và ngược lại, nồng độ PCT cao ủng hộ chẩn đoán nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn nhất là khi có rối loạn chức năng các cơ quan, hậu quả của quá trình viêm toàn thân, suy đa tạng. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy Procalcitonin có thể giúp phân biệt được nhiễm khuẩn do vi khuẩn hay siêu vi, theo dõi đáp ứng với điều trị kháng sinh và kiểm soát ổ nhiễm khuẩn tốt hơn các chất chỉ điểm sinh học khác.
Ngô Thanh