[Đăng ngày: 17/05/2018]
Theo báo cáo Viện Dinh dưỡng quốc gia, từ 2002 đến 2015, Việt Nam có những thành tựu trong việc giảm đáng kể tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, từ 30,3% xuống 14,1%; tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi từ 33% xuống 24,6% ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc, tuy nhiên tỷ lệ SDD thể cấp tính hầu như không đổi; từ 7,9% xuống 7,8%. SDD thể cấp tính cao ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nơi có thiên tai, mất an ninh lương thực với tỷ lệ hơn 10%, đây là mức cần phải có can thiệp cấp cứu.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, quản lý SDD cấp tính nặng cần sự phối hợp chặt chẽ giữa điều trị trong mô hình bệnh viện và điều trị trên cộng đồng. Tổ chức Y tế thế giới có hướng dẫn quản lý trẻ SDD cấp nặng trong bệnh viện, phương pháp điều trị vẫn đang được cập nhật. Đối với việc quản lý SDD cấp vừa (Mam), một số tài liệu hướng dẫn đã công bố và đang thảo luận.

Sản phẩm RUSF-HEBI-Mam là sản phẩm được sản xuất dùng điều trị cho SDD cấp vừa và dự phòng SDD cấp. Sản phẩm đáp ứng tốt về giá trị năng lượng và các vi chất dinh dưỡng theo khuyến cáo của WHO. Từ tháng 3/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thúy Nga cùng cộng sự Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế thực hiện nghiên cứu thử nghiệm can thiệp tại cộng đồng ngẫu nhiên, có đối chứng báo cáo đề tài “Hiệu quả của sản phẩm Hebi-Mam đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 24-59 tháng tuổi tại một số xã thuộc huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”.

Đối tượng nghiên cứu là trẻ từ 24 – 59 tháng tuổi có nguy cơ bị SDD cấp, chỉ số WHZ trong khoảng -2 đến 0, sống tại 4 xã huyện Yên Bình, Yên Bái. Phân nhóm nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên cụm, mỗi cụm là một xã. Nhóm can thiệp (HEBI, n = 300) ăn thực phẩm bổ sung HEBI – Mam ½ gói (46 gam) hàng ngày, trong 4 tháng liên tục. Nhóm chứng n = 300 không ăn thực phẩm bổ sung.
Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu, 2 nhóm tương đồng về tuổi, giới tính, cân nặng, chiều cao, chỉ số WAZ và nồng độ Hb. Tuy nhiên nhóm HEBI có chỉ số HAZ cao hơn, chỉ số WHZ thấp hơn và tỷ lệ trẻ có chỉ số HAZ < -2 và < -3 thấp hơn so với nhóm chứng (p < 0,05). Sau 4 tháng can thiệp, cả 2 nhóm Hebi và nhóm chứng đều có sự cải thiện có ý nghĩa cả về cân nặng và chiều cao (p < 0,001).

Tuy nhiên, mức tăng cân nặng, chiều cao trung bình trong từng tháng của trẻ ở cả 2 nhóm vẫn thấp hơn so với nghiên cứu tại Hà Nội; do đặc điểm khác nhau về chế độ ăn, điều kiện sống. Sau 4 tháng can thiệp chỉ số WHZ không còn sự khác biệt, điều này chứng tỏ nhóm Hebi đã có sự cải thiện chỉ số WHZ tốt hơn so với nhóm chứng. Bổ sung Rusf Hebi – Mam chưa thấy có sự cải thiện về tỷ lệ SDD cấp.

Trên thế giới có hơn 200 nghiên cứu về tác động của thực phẩm tăng cường vi chất đến sức khỏe phụ nữ và trẻ em. Tác giả nghiên cứu cho biết việc bổ sung thực phẩm tăng cường đa vi chất không thấy có tác động có ý nghĩa đến các chỉ số Z-score cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao; mặc dù nhóm bổ sung có xu hướng tốt hơn so với nhóm chứng.

Đối với bổ sung RusfHebi – Mam, dù hàm lượng hemoglobin trung bình của 2 nhóm trước và sau can thiệp không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên nhóm Hebi tăng nồng độ hemoglobin 3,0 g/L tốt hơn so với nhóm chứng, tăng 0,3 g/L. Sau 4 tháng can thiệp có 52,4% số trẻ giảm tình trạng thiếu máu. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho nhận xét, bổ sung các thực phẩm tăng cường vi chất cho trẻ em đã tác động có ý nghĩa đến việc tăng nồng độ các vi chất trong huyết thanh. Các marker về máu có sự cải thiện trong đó có nồng độ hemoglobin. Những trường hợp được bổ sung thực phẩm có tăng cường với vitamin A, sắt hoặc đa vi chất đều có sự cải thiện có ý nghĩa nồng độ hemoglobin. 

Tác giả cho biết, liều bổ sung là 46 gam Hebi – Mam, cung cấp tối thiểu 4 gam sắt nguyên tố cho trẻ và cung cấp thêm các vi chất thường thiếu như axit folic, vitamin B12, vitamin B2 (riboflavin), vitamin A là những vitamin cần thiết trong quá trình tạo hồng cầu. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần bổ sung 46 gam Hebi – Mam cải thiện các chỉ số nhân trắc và nồng độ hemoglobin ở trẻ, nên triển khai diện rộng để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu cho trẻ, nhất là ở khu vực miền núi, vùng khó khăn.
Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 239

Số lượt truy cập: 9289491

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang