[Đăng ngày: 27/07/2016]
    Polyp mũi là một bệnh lý viêm mạn tính của đường hô hấp trên, là bệnh lý lành tính ở mũi nhưng rất hay tái phát. Polyp mũi có tổn thương đa yếu tố phức tạp và nhiều cơ chế sinh lý – mô bệnh học chỉ được biết một phần, chưa xác định phân loại rõ các tổn thương polyp mũi khác nhau trên lâm sàng.
Hiện nay chuyên ngành giải phẫu bệnh đã phát triển với nhiều phương pháp giúp quan sát cấu trúc mô bệnh học. Nhờ đó, có thể quan sát rõ từng cấu trúc biểu mô bề mặt với các loại tế bào, sự phân bố thần kinh, mạch máu, các tuyến chế tiết và sự thấu nhập các tế bào viêm, từ đó xác định được từng giả thiết bệnh lý của polyp mũi.
Như vậy, cần phải xác định từng loại cấu trúc mô bệnh học polyp mũi theo các thể lâm sàng để giúp ích trong quyết định lựa chọn điều trị tối ưu cho từng trường hợp polyp mũi.
Trong năm 2013, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Minh Thông cùng cộng sự Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Chợ Rẫy tiến hành nghiên cứu “Khảo sát đặc điểm lâm sàng – mô bệnh học 57 trường hợp polyp mũi”.
Kết quả nghiên cứu cho thấy nam giới mắc bệnh cao hơn nữ giới (35/22 ca). Khoảng tuổi mắc bệnh từ 14-64, độ tuổi trung bình 41, nhóm tuổi trên 30 tuổi chiếm đa số với gần 86%. Tỷ lệ người bệnh có hút thuốc lá chiếm 75,4%; có tiếp xúc hóa chất 68,4%; không có cơ địa dị ứng chiếm 82,5%; không có bệnh lý hen phế quản chiếm 96,5%; về đặc điểm lâm sàng, lý do nhập viện đa số là nghẹt mũi chiếm 75,44%; giảm khứu – mất khứu 70,18%. Kết quả nội soi nhiều nhất là độ 2 chiếm tỷ lệ 49,12%; kết quả CT scan đánh giá theo thang điểm Lund & Mackay trung bình là 15,62.
Về đặc điểm giải phẫu bệnh, biểu mô bề mặt đa số là tế bào giả tầng có lông chuyển 96,50%; có loét biểu mô 85,96%. Mật độ tế bào đài thấp 66,67%; phân bố tế bào thần kinh giảm 82,46%. Sự thay đổi các tuyến dưới niêm chủ yếu là hiện tượng giãn rộng các tuyến tạo bọc 64,91% và tăng sản tuyến 52,63%. Mao mạch và tĩnh mạch quanh ống tuyến giãn ra và tắc nghẽn chiếm 73,68%; tắc nghẽn khoảng gian bào, phù nề bạch huyết tại chỗ chiếm 42,11%. Thành phần tế bào viêm ưu thế eosinophil 26,3%; hiện diện tế bào Mast 24,6%.
Theo kết quả nghiên cứu, giả thuyết vỡ lớp biểu mô chiếm đa số 85,96%; tiếp theo là giả thuyết giãn các nang ống tuyến chế tiết và tắc nghẽn mạch máu 64,91%; giả thuyết tăng sản tuyến 54,39%; giả thuyết tắc nghẽn 35,09%. Các giả thuyết nang tuyến, viêm quanh bạch huyết – tĩnh mạch, xuất tiết chất nhầy với tỷ lệ <15%; giả thuyết u dạng tuyến – u dạng sợi và viêm xương sàng hoại tử không có trường hợp nào được ghi nhận.
Tác giả nghiên cứu phân tích so sánh với một số nghiên cứu trên thế giới như theo tác giả Wladislavosky-Wasserman (1984), cấu trúc polyp mũi có khiếm khuyết bề mặt biểu mô với phương pháp cố định và xử lý mẫu polyp cẩn thận, không gây vỡ tế bào.
Theo tác giả Larsen PL, Tos M. (1990), mật độ tế bào đài của polyp thấp hơn nhiều so với niêm mạc mũi bình thường. Theo tác giả Cauna N, Hinderer KH (1972), sự thoái hóa thần kinh trong polyp mũi gây ra giảm hoạt động chế tiết của các tuyến và gây ra thay đổi tính thấm mao mạch, dẫn đến tính trạng phù nề niêm mạc không phục hồi, sự biến mất hoàn toàn thần kinh tự trị là yếu tố sinh trong sự hình thành polyp mũi.
Sự thay đổi các tuyến dưới niêm chủ yếu là hiện tượng giãn rộng các tuyến tạo bọc 64,91% và tăng sản tuyến 52,63%. Mao mạch và tĩnh mạch quanh ống tuyến giãn ra và tắc nghẽn chiếm 73,68%; tắc nghẽn khoảng gian bào, phù nề bạch huyết tại chỗ chiếm 42,11%.
Theo tác giả Tos M, Mogensen C. (1977), mật độ tuyến của polyp nhiều hơn 10 lần trong niêm mạc mũi. Tất cả các tuyến của polyp đều có dấu hiệu thoái hóa nang với sự ứ đọng chất nhầy và căng phồng các ống tuyến, mất sự chế tiết bình thường. Theo tác giả Mygin N, Lildholdt T. (1997), quá trình xuất tiết tương bào ở vi mạch có thể góp phần trong sự hình thành mãn tính của dịch phù trong polyp mũi. Thành phần tế bào viêm ưu thế eosinophil 26,3%; hiện diện tế bào Mast 24,6%. Tác giả Jankowski (1996) báo cáo thành phần tế bào viêm eosinophil hiện diện trong mô niêm mạc mũi xoang có polyp mũi cao hơn 10%.
Tế bào ái toan oesinophil được tạo ra trong phản ứng viêm của cơ thể khi tiếp xúc với các dị nguyên, tăng cao trên người có cơ địa dị ứng. Mẫu nghiên cứu của nhóm nghiên cứu là polyp mũi nên tỷ lệ có tăng eosinophil cao hơn tỷ lệ có cơ địa dị ứng, tức là ngoại trừ những ca polyp mũi có cơ địa dị ứng tăng eosinophil còn có những ca polyp mũi không cơ địa dị ứng tăng eosinophil.
Kết luận cho nghiên cứu, nhóm tác giả Trần Minh Thông cho rằng polyp mũi thường gặp ở tuổi trưởng thành trên 30 tuổi, giới nam nhiều gấp 2 lần giới nữ, yếu tố nguy cơ là tiếp xúc với thuốc lá và các loại hóa chất. Triệu chứng lâm sàng gợi ý là nghẹt mũi và giảm khứu giác. Chẩn đoán giải phẫu bệnh bằng kỹ thuật nhuộm hóa mô và hóa mô miễn dịch xác định đặc điểm mô bệnh của polyp là lành hoặc ác và nguồn gốc sinh mô bệnh rất cần thiết cho điều trị và tiên lượng.
Mai Trang
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 34

Số lượt truy cập: 9361542

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang