
Vữa xơ động mạch là một bệnh mạn tính với những đợt tiến triển cấp tính, có thể có những biểu hiện lâm sàng, điện học và sinh hóa khác nhau (cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim cấp với sóng Q xuyên thành, nhồi máu cơ tim cấp không có sóng Q hay nhồi máu cơ tim dưới nội tâm mạc...). Những biểu hiện này hiện nay được gọi dưới một tên chung là Hội chứng động mạch vành cấp vì chúng đều có chung một cơ sở sinh lý bệnh học: sự nứt hoặc vỡ của các mảng vữa xơ trên thành động mạch vành, gây hẹp hoặc tắc lòng mạch và sự hình thành cục máu đông làm hẹp, tắc lòng mạch nhiều hơn nữa.
Từ tháng 3-9/2015, BS. Võ Văn Định đã tiến hành nghiên cứu “Tình hình bệnh nhân bệnh mạch vành tại khoa Nội – Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa”. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ mắc bệnh mạch vành; Xác định mối liên quan giữa bệnh mạch vành với các yếu tố như: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, thói quen hút thuốc lá.
Theo BS. Định, phương pháp chẩn đoán bệnh mạch vành gồm chẩn đoán lâm sàng bằng hỏi bệnh để thu thập số liệu thông tin về tuổi, giới tính, thời gian phát hiện đau ngực, có hút thuốc lá không. Cơn đau thắt ngực kiểu vành: Cảm giác đau như bóp nghẹt, đè nặng, ép chặt, rát bỏng sau xương ức. Hướng lan lên vai, cằm, mặt trong cánh tay, vùng thượng vị. Xuất hiện có tính quy luật, liên quan đến gắng sức, cảm xúc mạnh, gặp lạnh, sau bữa ăn nhiều, hút thuốc lá... kéo dài 3 đến 15 phút. Các triệu chứng giảm, đỡ khi hết tác nhân gây gắng sức hoặc khi dùng nitroglycerine. Chẩn đoán cận lâm sàng: Đo điện tim (ECG) để chẩn đoán bệnh mạch vành; Siêu âm tim; Xét nghiệm men tim khi nghi ngờ cơn đau thắt ngực không ổn định.
Kết quả nghiên cứu, theo BS. Định báo cáo có 150 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, trong đó 98 nữ (64%) và 52 nam (36%). Độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 75 tuổi. Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 60-79 tuổi (54%). Trong 150 bệnh nhân mạch vành có 74,7% suy tim do suy vành; 6,7% đau thắt ngực ổn định; 14% đau thắt ngực không ổn định; 2,7% nhồi máu cơ tim ST không chênh lên; 2% nhồi máu cơ tim ST chênh lên. Tỷ lệ nam giới trong hội chứng vành cấp cao hơn nữ giới. Cụ thể trên tổng số 29 trường hợp, nam giới chiếm 18/28, nữ giới chiếm 10/28.
Đối với một số yếu tố liên quan đến bệnh mạch vành: Kết quả nghiên cứu cho thấy trong các yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành, tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất (69,27%), tiếp theo là đái tháo đường và rối loạn lipid máu cùng chiếm tỷ lệ 34,67%, tiếp theo là hút thuốc lá chiếm tỷ lệ 28%, và thấp nhất là béo phì chiếm tỷ lệ 26,67%. Có mối liên quan giữa tăng huyết áp và bệnh mạch vành (p<0,05). Huyết áp càng cao nguy cơ bệnh mạch vành càng cao. Trong 150 bệnh nhân mạch vành, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tăng huyết áp độ 3 chiếm 40,66%, tăng huyết áp độ 2 chiếm 20%, tăng huyết áp độ 1 chiếm 8,67%. Tỷ lệ đái tháo đường ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim trên điện tâm đồ không có ST chênh lên là cao nhất, chiếm ¾ trường hợp. Thấp nhất là tỷ lệ đái tháo đường ở bệnh nhân đau ngực ổn định chiếm tỷ lệ 10% (p>0,05). Trong 26,67% bệnh nhân béo phì, có 12% bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể BMI từ 23-25, và 14,67% bệnh nhân BMI từ 25-30. Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim không có ST chênh chiếm tỷ lệ cao nhất (4/4). Thấp nhất là nhóm đối tượng bệnh nhân suy tim do suy vành và không có cơn đau thắt ngực (26/112) (với p<0,05). Tỷ lệ nhồi máu cơ tim ở bệnh nhân có hút thuốc lá rất cao 7/7 bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân nam bệnh mạch vành có hút thuốc lá cao chiếm 39/54 bệnh nhân.
BS. Võ Văn Định đã có những kiến nghị cụ thể như các bác sĩ cần điều trị theo đúng phác đồ, kết hợp với việc tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân để bệnh nhân điều trị liên tục, tránh trường hợp bỏ qua các dấu hiệu cảnh báo của bệnh nhồi máu cơ tim. Tổ chức các buổi tuyên truyền sâu rộng giáo dục sức khỏe trong cộng đồng về bệnh mạch vành và các yếu tố nguy cơ. Đối với bệnh nhân tăng huyết áp cần mua máy đo huyết áp để theo dõi huyết áp tại nhà. Đối với bệnh nhân không có máy cần phải thường xuyên đến trạm y tế để theo dõi chỉ số huyết áp. Mỗi cá nhân cần có ý thức trong việc khám sức khỏe định kỳ. Giảm số lượng bệnh nhân bệnh mạch vành nghĩa là giảm tỷ lệ bệnh tim mạch trong cộng đồng. Qua đó nâng chất lượng cuộc sống, tăng tuổi thọ cho người dân.
Chúng ta biết rằng, thuật ngữ hội chứng động mạch vành cấp hay hội chứng vành cấp (acute coronary syndrome) mô tả tất cả những bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu cơ tim cấp tính trong đó bao gồm cả những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên, nhồi máu cơ tim cấp không có đoạn ST chênh lên và đau thắt ngực không ổn định.
Ngày nay, bệnh tim mạch vẫn là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu tại các quốc gia phát triển. Tại các nước đang phát triển, bệnh cũng có xu hướng gia tăng. Dù có nhiều phương pháp điều trị hữu hiệu nhưng tử vong do bệnh tim mạch vẫn còn cao, chiếm 34,2% số tử vong chung trên toàn thế giới mỗi năm.
Anh Huy