Loãng xương là một rối loạn chuyển hóa chất khoáng trong xương, gây sự mất toàn vẹn về khối lượng và chất lượng xương và hậu quả cuối cùng là gãy xương.

Sự mất toàn vẹn về khối lượng xương thể hiện giảm mật độ khoáng chất của xương và giảm khối lượng xương. Chất lượng xương giảm thể hiện ở sự thay đổi thành phần chất nền, chất khoáng của xương, tổn thương vi cấu trúc, sửa chữa cấu trúc xương và cuối cùng là giảm thể tích xương. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương: tuổi, estrogen, dinh dưỡng, cân nặng, chiều cao, tình trạng vận động, bệnh lý gây loãng xương (cường giáp, cường cận giáp, đái tháo đường …) và nhiều yếu tố khác (sử dụng thuốc, di truyền, uống rượu, hút thuốc lá …) Mặc dù mất xương là hiện tượng sinh lý xuất hiện sau tuổi 40 ở cả hai giới song tốc độ mất xương ở nam và nữ là khác nhau. Sự mất xương ở nữ xuất hiện sớm từ 15-20 năm so với nam giới do hậu quả của việc suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh chóng.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Thái Viết Tặng cùng cộng sự Bệnh viện 103, Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu mô tả, cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu mật độ khoáng của xương, tỷ lệ loãng xương bằng phương pháp Dexa và các yếu tố nguy cơ loãng xương ở phụ nữ trên 40 tuổi”
Đối tượng nghiên cứu là 206 phụ nữ ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Tiêu chuẩn chọn: Tuổi trên 40 tuổi, đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Không chọn những người có hội chứng Cushing, cường cận giáp, cường giáp trạng, bệnh gan thận mạn tính, hội chứng kém hấp thu, bị cắt bỏ buồng trứng, đang sử dụng hormone thay thế, ung thư di căn, đa u tủy xương, bất động kéo dài trên 3 tháng, giảm chức năng vận động nặng, có các bệnh xương khớp mạn tính, phụ nữ có thai … không đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
Các đối tượng nghiên cứu được hỏi tiền sử bệnh tật, khám lâm sàng, đo chiều cao, cân nặng, BMI, đo mật độ xương bằng phương pháp DEXA, thu thập chỉ tiêu các yếu tố gây loãng xương.
Chẩn đoán loãng xương theo WHO: Dựa vào mật độ xương tại cổ xương đùi:
+ Bình thường: T-score > -1
+ Thiếu xương: -2.5 < T-score < -1
+ Loãng xương: T-score < -2.5
+ Loãng xương nặng: T-score < -2.5 kèm theo gãy xương.
BS Thái Viết Tặng phân tích báo cáo, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 66,8; tuổi thấp nhất là 48, cao nhất là 85 tuổi. Bệnh nhân dưới 60 tuổi chiếm 8,3%, bệnh nhân từ 60 – 69 tuổi chiếm 62,1%, bệnh nhân lớn hơn 90 tuổi chiếm 29,6%. Mật độ xương trung bình và T-score trung bình lần lượt là 0.760 + 0.140 và -0,890 + 1.20.
Tác giả nghiên cứu cho biết, tại cổ xương đùi tỷ lệ bình thường là 54,8%; loãng xương là 11,2% và thiểu xương là 34%. Đối với những người không có chế độ bổ sung calci và uống sữa tỷ lệ loãng xương và thiểu xương chiếm tới 45,2%.

Theo tác giả nghiên cứu, các giai đoạn trong cuộc đời phụ nữ liên quan tới estrogen là hormon có vai trò quan trọng tạo xương, tăng mật độ xương, sức mạnh xương. Tại thời điểm sau mãn kinh, estrogen bị suy giảm, hệ quả là mật độ xương cũng suy giảm nhanh chóng, nhất là 5 năm đầu sau mãn kinh. Phụ nữ mãn kinh tăng một tuổi mất 1% khối lượng xương dẫn đến loãng xương và gãy xương. Cứ tăng lên mỗi 5 tuổi thì nguy cơ gãy xương đùi ở phụ nữ có tuổi tăng từ 1-4 đến 1-8 lần. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi càng cao mật độ xương càng giảm, có mối tương quan nghịch giữa mật độ xương với tuổi (hệ số tương quan r = -0,40, p<0,05), và tương quan nghịch giữa chỉ số T-score với tuổi (hệ số tương quan r = -0,04, p<0,05).
Đối với những người có trọng lượng mỡ nhiều và chỉ số BMI cao, có mật độ phân bố mỡ ở vùng xương đùi, cụ thể là quanh đầu trên xương đùi nhiều; chúng có vai trò chiếc gối đệm bảo vệ đầu trên xương đùi giảm va chạm, nên giảm nguy cơ gãy xương. Và ngược lại những người có trọng lượng cơ thể thấp thì mật độ mỡ quanh đầu trên xương đùi thấp nên tăng nguy cơ bị gãy xương. Tuy nhiên, các chỉ số nhân trắc có mối tương quan thuận với mật độ xương, cho nên chúng loại trừ nhau trong mô hình chẩn đoán gãy xương. Có nghĩa là sự xuất hiện cùng lúc giữa các chỉ số nhân trắc và mật độ xương, thì mối tương quan giữa các yếu tố có cùng tiên đoán nguy cơ gãy xương sẽ giảm. Theo nghiên cứu, nhóm đối tượng gầy (BMI<18,5) có mật độ xương trung bình thấp hơn nhóm đối tượng có BMI bình thường hoặc tăng (p<0,05). Mật độ xương tương quan thuận với cân nặng, chiều cao và BMI của đối tượng nghiên cứu. Tỷ lệ loãng xương ở nhóm đối tượng thiếu cân là cao nhất (p<0,001).
Tác giả cho biết, loãng xương liên quan đến thời gian mãn kinh: Thời gian mãn kinh càng dài thì tỷ lệ loãng xương càng cao, trên 10 năm tỷ lệ loãng xương 13,9%, so với thời gian mãn kinh 5-10 năm là 0%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Hormon sinh dục nữ estrogen có vai trò trong sức mạnh xương, phát triển xương trưởng thành và duy trì khối lượng xương. Thiếu estrogen thay đổi cân bằng hình thành xương và hủy xương là nguyên nhân gây loãng xương, gãy xương ở phụ nữ sau mãn kinh. Mười năm sau mãn kinh mật độ xương giảm nhanh hơn giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh.
Tác giả nghiên cứu có kết luận phụ nữ có thời kỳ mãn kinh càng dài, mật độ xương càng giảm và tỷ lệ loãng xương càng tăng.
Tỷ lệ loãng xương ở các gia đình có tiền sử gãy xương cao hơn nhóm không có tiền sử gãy xương.
Trần Hưng