Từ tháng 12/2015 đến tháng 10/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đinh Thị Nguyệt cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả, so sánh trước-sau báo cáo đề tài “Mất máu và thay đổi một số xét nghiệm đông máu sau cắt đốt nội soi phì đại lành tính tuyến tiền liệt”.

Đối tượng nghiên cứu có 50 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua đường niệu đạo dưới gây tê tủy sống, đồng ý tham gia nghiên cứu. Các xét nghiệm đông máu cơ bản, tổng phân tích tế bào máu ngay trước mổ trong giới hạn bình thường. Những trường hợp chống chỉ định gây tê tủy sống, thiếu máu nặng, rối loạn đông máu hoặc đang sử dụng các thuốc tăng hoặc giảm đông trước mổ được loại khỏi nghiên cứu.
BS Nguyệt báo cáo phân tích, đối tượng nghiên cứu từ 70 tuổi trở lên chiếm 64%; tỷ lệ bệnh nhân có tăng huyết áp là 36%; có bệnh hô hấp là 22%; có rối loạn nhịp tim là 12%.
Mặc dù cắt đốt nội soi tiền liệt tuyến qua niệu đạo là một trong những phẫu thuật ít xâm lấn nhưng do thực hiện trên đối tượng đa số là người già và đặc thù của phẫu thuật (sử dụng dịch rửa bàng quang dưới áp lực, tổn thương động tĩnh mạch trong khi mổ) nên phẫu thuật luôn tiềm ẩn các tai biến và biến chứng nguy hiểm nhất là mất máu, quá tải dịch, ngộ độc nước, suy tim cấp. Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt gây mất máu và rối loạn đáng kể các chỉ số đông máu cơ bản, cụ thể là có sự thay đổi ý nghĩa thống kê về các chỉ số huyết học và đông máu giữa hai thời điểm trước và sau phẫu thuật.
Trong cắt đốt nội soi phì đại tuyến tiền liệt lành tính (PĐTTLLT) việc đánh giá lượng máu mất thường không dễ dàng vì hiện tượng pha loãng máu từ hấp thu dịch rửa giúp duy trì thể tích tuần hoàn, do đó khó thấy các đáp ứng huyết động thông thường khi mất máu. Lượng máu mất thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mạch máu của tuyến, thời gian mổ, khối lượng tuyến được cắt bỏ, kỹ thuật mổ... Trong nghiên cứu có 8% bệnh nhân mất máu lâm sàng tương ứng với độ II mặc dù lượng máu mất chính xác không được xác nhận, các bệnh nhân này đều được truyền từ 2-3 đơn vị hồng cầu khối phối hợp với plasma. Tỉ lệ cần truyền máu sau mổ trong một tổng kết lớn trên 10 ngàn bệnh nhân cắt đốt nội soi PĐTTLLT là 2,9%. Có 3 bệnh nhân trong nhóm truyền máu có biểu hiện đau ngực mới xuất hiện, tuy nhiên chỉ thoáng qua và hết sau khi truyền máu. Kết quả cho thấy các chỉ số về số lượng hồng cầu, hematocrit và hemoglobin ở thời điểm ngay sau mổ và sau mổ 24 giờ đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với thời điểm ngay trước mổ. Kết quả này cũng phù hợp với công bố trước đây của Smyth và cộng sự khi xác nhận các chỉ số công thức máu đều giảm có ý nghĩa ở các thời điểm 1, 6 và 24 giờ sau mổ so với trước mổ đối với cả nhóm gây tê tủy sống và nhóm gây mê.

Tác giả lưu ý, mức độ mất máu có ý nghĩa về mặt lâm sàng hay không còn tùy thuộc vào khả năng thích nghi của từng trường hợp cụ thể, nhưng với bệnh nhân mất máu lại là người già thường có các bệnh lý kèm theo khác nhất là bệnh tim mạch và hô hấp, tác giả nghiên cứu cho rằng các vấn đề này cần được chú ý nhằm ngăn ngừa và điều trị kịp thời những hậu quả gây ra do không thích nghi được với mất máu trong và sau mổ.
Rối loạn đông máu trong phẫu thuật cắt đốt nội soi PĐTTLLT cũng do nhiều cơ chế và nguyên nhân khác nhau như chảy máu liên tục từ trong đến sau mổ gây mất yếu tố đông máu và tiểu cầu, hiện tượng tiêu fibrinogen, hiện tượng pha loãng máu do hấp thu dịch rửa… Kết quả của nghiên cứu cho thấy số lượng tiểu cầu, tỉ lệ prothrombin và nồng độ fibrinogen sau mổ đều giảm có ý nghĩa so với thời điểm trước mổ. Điều này cũng khá phù hợp với kết quả công bố trước đây của Smyth khi tiểu cầu ở giờ 24 sau mổ và fibrinogen và nồng độ yếu tố V ở giờ thứ nhất và thứ 6 sau mổ đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với trước mổ.
BS Đinh Thị Nguyệt có kết luận, qua nghiên cứu 50 bệnh nhân được phẫu thuật cắt đốt nội soi PĐTLTLT qua đường niệu đạo cho thấy tình trạng giảm đáng kể các chỉ số trong công thức máu và đông máu cơ bản trong 24 giờ sau mổ. Do đó, cần chú ý áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế các thay đổi này nhất là ở bệnh nhân già yếu có các bệnh lý kèm theo khác.
Phì đại tuyến tiền liệt lành tính là sự tăng sản của các thành phần tế bào tuyến tiền liệt, bao gồm tế bào biểu mô và mô đệm của tuyến. Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi và có xu hướng cao hơn theo sự cải thiện về tuổi thọ. Tại Mỹ, nam giới trên 60 tuổi có tỉ lệ mắc PĐTTLLT là 50%, ở tuổi 85 con số này tăng lên 90%. Có 75% nam giới trên 70 tuổi có ít nhất một triệu chứng của PĐTTLLT. Chi phí điều trị bệnh và các triệu chứng liên quan ước tính mỗi năm lên tới 4 tỉ đô la. Tại Việt Nam theo điều tra của Trần Đức Hòe tỉ lệ mắc ở nam giới tuổi 50 là 50% và 80 tuổi là trên 95%.
Lâm Quyên