Rối loạn lipid máu là tình trạng thay đổi một hay nhiều thành phần lipid máu, là một trong các yếu tố nguy cơ bệnh lý tim mạch. Ở Mỹ, theo NCEP – ATP II năm 1993 thì 25% người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên có cholesterol toàn phần >6,2mmol/1. Ở Việt Nam có khoảng 26% người ở lứa tuổi 25-74 mắc rối loạn lipid máu. Rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tiền đái tháo đường, đái tháo đường liên quan chặt chẽ với nhau. Từ năm 2002 khái niệm tiền đái tháo đường ra đời để chỉ tình trạng đường huyết cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Tiền ĐTĐ là tình trạng suy giảm chuyển hóa glucose, bao gồm 2 tình huống: Rối loạn glucose máu lúc đói (RLGLĐ – Impaired Fasting Glucose – IFG) và rối loạn dung nạp glucose (RLDNG). Cả hai tình huống này đều tăng glucose máu, nhưng chưa đạt mức chẩn đoán ĐTĐ thực sự. Tuy nhiên ở giai đoạn này đã xuất hiện tình trạng kháng Insulin, là bước khởi đầu trong tiến trình xuất hiện ĐTĐ type 2 với tỷ lệ chuyển đổi hàng năm từ 5% - 10%.

Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng trên toàn thế giới và dự kiến rằng > 470 triệu người sẽ có tiền ĐTĐ trong năm 2030. Tiền ĐTĐ có thể tiến triển thành bệnh ĐTĐ thực sự sau 5-10 năm. Các nghiên cứu cho thấy 25% bệnh nhân bị tiền ĐTĐ sẽ phát triển bệnh ĐTĐ type 2 trong vòng 3 đến 5 năm. Tuy nhiên những người có yếu tố nguy cơ nếu thay đổi lối sống, chế độ ăn uống và tập luyện phù hợp sẽ giảm nguy cơ tương đối 40%-70% mắc bệnh ĐTĐ.
Vừa qua, tác giả nghiên cứu Nguyễn Trung Kiên cùng cộng sự Bệnh viện Quân Y 4 – Nghệ An, tiến hành nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có đối chứng báo cáo đề tài “Nghiên cứu rối loạn lipid máu và các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tiền đái tháo đường”.
Đối tượng nghiên cứu là 160 bệnh nhân tiền ĐTĐ và 80 người khỏe mạnh không có các bệnh lý tim mạch đến khám và điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Nghệ An và Bệnh viện Quân y 4. Qua khám lâm sàng và cận lâm sàng, tương đồng về tuổi, giới với nhóm bệnh.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, tuổi trung bình nhóm chứng (n=80) là 52,6; nhóm bệnh (n=160) là 53,1. Tăng huyết áp > 140/90 mmHg nhóm chứng có tỷ lệ 15% và 18,7%; nhóm bệnh có tỷ lệ 79,5% và 38%.

BS Nguyễn Trung Kiên cho biết, cân nặng, tỷ lệ tăng huyết áp, chỉ số, tỷ lệ tăng BMI, VB, WHR và tỷ lệ ít vận động ở nhóm bệnh cao hơn so với nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này cho thấy các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, chuyển hóa tăng lên, xuất hiện sớm ở nhóm có đề kháng insulin, trước cả khi xuất hiện bệnh ĐTĐ.
Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ ở nhóm bệnh cao hơn so với nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Trong nhóm bệnh phát hiện có 28,7% ĐTĐ và nhóm chứng có 23,7% rối loạn dung nạp glucose. Kết quả này là phù hợp với cơ chế bệnh và tiến triển của bệnh tiền ĐTĐ. Đồng thời cho thấy có một tỷ lệ không nhỏ ĐTĐ và tiền ĐTĐ (RLGNG) không được phát hiện, bỏ sót nếu không làm nghiệm pháp dung nạp glucose hoặc chỉ làm xét nghiệm glucose máu lúc đói.
Chỉ số và tỷ lệ tăng CT, TG, LDL-C của nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng, còn chỉ số HDL-C của nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Theo nghiên cứu, trong nhóm bệnh ngoài rối loạn glucose máu lúc đói, rối loạn dung nạp glucose, ĐTĐ còn có các bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa, béo phì dạng nam. Tình trạng đề kháng insulin, béo phì cùng với RLLPM luôn song hành cùng nhau. Khi tiền ĐTĐ kết hợp với RLLPM làm cho nguy cơ bệnh lý tim mạch càng cao.
Chỉ số CT, TG của phân nhóm ĐTĐ và rối loạn dung nạp glucose cao hơn phân nhóm DNGBT, tỷ lệ tăng TG và giảm HDL-C của phân nhóm ĐTĐ, rối loạn dung nạp glucose cao hơn phân nhóm DNGBT, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả này cho thấy, tỷ lệ và mức độ rối loạn lipid máu tăng theo mức độ rối loạn chuyển hóa đường, cao nhất ở phân nhóm ĐTĐ, đến phân nhóm rối loạn dung nạp glucose và thấp nhất ở phân nhóm DNGBT.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, các yếu tố nguy cơ như cân nặng, tỷ lệ tăng huyết áp, chỉ số, tỷ lệ tăng BMI, VB, WHR và tỷ lệ ít vận động ở nhóm bệnh cao hơn so với nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ ở nhóm bệnh cao hơn so với nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Trong nhóm bệnh có 28,7% ĐTĐ và nhóm chứng có 23,7% rối loạn dung nạp glucose.
Chỉ số và tỷ lệ tăng CT, TG, LDL-C của nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng còn chỉ số HDL-C của nhóm bệnh thấp hơn nhóm chứng, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Chỉ số CT, TG của phân nhóm ĐTĐ và rối loạn dung nạp glucose cao hơn phân nhóm DNGBT, tỷ lệ tăng TG và giảm HDL-C của phân nhóm ĐTĐ, rối loạn dung nạp glucose cao hơn phân nhóm DNGBT, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Về kiến nghị, tác giả nghiên cứu cho là cần làm nghiệm pháp dung nạp glucose máu cho các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ, vì có 28,7% ĐTĐ trong nhóm rối loạn glucose máu lúc đói và 23,7% rối loạn dung nạp glucose ở nhóm không có rối loạn glucose máu lúc đói không được phát hiện, bỏ sót nếu không làm nghiệm pháp dung nạp glucose.
Mai Trang