Vô cảm trong mổ lấy thai có nhiều phức tạp vì hầu hết các trường hợp mổ lấy thai là những phẫu thuật cấp cứu.

Yêu cầu đặt ra cho người gây mê là đảm bảo an toàn cho mẹ và thai nhi; đảm bảo thuận lợi tối đa cho phẫu thuật viên khi tiến hành cuộc phẫu thuật. Gây tê tủy sống được cho là ưu điểm hơn gây mê toàn thể cho mổ lấy thai. Tuy nhiên, tụt huyết áp là biến chứng rất hay gặp (đến 70-80%). Gây tê tủy sống để mổ lấy thai gây nên hậu quả xấu cho bà mẹ và con nếu không được dự phòng và điều trị hiệu quả. Tụt HA có thể xảy ra rất nhanh dẫn đến nguy hiểm cho thai nhi và mẹ; mẹ có thể buồn nôn và nôn, ở thai nhi thì toan máu.
Các chuyên gia gây mê hồi sức cho biết, từ lâu hay dùng ephedrine (kích thích α1 và β, thuốc qua được rau thai) là lựa chọn hàng đầu. Gần đây phenylephrine được một số tác giả và một số cơ sở sản khoa khuyến cáo dùng vì thuốc ít gây mạch nhanh và ít gây toan máu ở con do kích thích chọn lọc trên α1 đơn thuần và không qua rau thai.
Việc ứng dụng công nghệ theo dõi huyết động không xâm lấn Niccomo trên lâm sàng giúp cho bác sĩ gây mê đánh giá trực quan, chính xác và kịp thời, nhất là sự thay đổi tức thì HR, SV, CO, CI, SVR… nhằm đưa ra thái độ xử trí đúng đắn việc bù khối lượng tuần hoàn và thời điểm đúng để bác sĩ gây mê hãy dùng thuốc co mạch.
Các nghiên cứu về phenylephrine trong gây tê tủy sống cho mổ lấy thai vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu trên thế giới, tại Việt Nam hiện chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Nhóm nghiên cứu Trần Minh Long cùng cộng sự Bệnh viện Hữu nghị Nghệ An và Bệnh viện Việt Đức tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: Đánh giá hiệu quả xử trí tụt huyết áp, tác dụng không mong muốn của phenylephrine, tác dụng trên nhịp tim, thay đổi lưu lượng tim, SVR, kết quả khí máu cuống rốn khi gây tê tủy sống cho sản phụ được mổ lấy thai.
Theo bác sĩ Trần Minh Long, nghiên cứu chọn bệnh nhân có chỉ định mổ lấy thai theo chương trình, có phân độ sức khỏe ASA I-II, sản phụ một thai, tuổi thai trên 36 tuần, trẻ mổ đẻ ra sống và không có dị tật bẩm sinh, sản phụ được gây tê tủy sống để mổ đẻ. Không có thất bại khi gây tê tủy sống; không có biến chứng nặng sau mổ do Gây tê tủy sống cũng như các biến chứng nặng do mổ đẻ gây ra. Loại khỏi nghiên cứu những sản phụ có mất máu nhiều trong mổ (trên 500 ml), mức phong bế quá T4. Loại khỏi nghiên cứu những sản phụ từ chối phương pháp, dị ứng hay quá mẫn với phenylephrine, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, trẻ đẻ ra bất thường, đái đường hoặc sản phụ có chống chỉ định với gây tê tủy sống.
Đây là nghiên cứu lâm sàng, người thực hiện nghiên cứu và theo dõi bệnh nhân là bác sĩ gây mê hồi sức giàu kinh nghiệm; là bác sĩ đã được huấn luyện, hiểu rõ mục tiêu nghiên cứu cũng như các chỉ số cần theo dõi và ghi trong mẫu bệnh án nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu mô tả, tiến hành cho sản phụ vào phòng mổ theo qui trình, cho thở oxy 4l/phút, truyền 10 ml/kg NaCl 0.9% qua catheter tĩnh mạch ngoại vi trong 15 phút trước gây tê tủy sống rồi duy trì 100 ml/h trong mổ. Gây tê tủy sống ở tư thế nghiêng trái, mức gây tê L3-4 để đạt mức phong bế cảm giác T4-5. Dùng liều dùng bupivacaine 0,5% heavy 8 mg kết hợp fentanyl 0,05 mg. Kê gối hông phải để tử cung nghiêng trái trong mổ. Thiết lập hệ thống theo dõi liên tục huyết động không xâm lấn Niccomo (Messtechnik GmbH Gemany). Theo dõi nhịp tim, HA, SpO2, theo dõi sự thay đổi HA, HR, SV (stroke volume), CO (cardiac output), CI (cardiac index), SVR (systemic vascular resistance)…; Sản phụ được theo dõi liên tục HR, ECG, HA động mạch không xâm lấn, SpO2, nhịp thở trên monitoring philips; Các thời điểm theo dõi 2 phút/ một lần trong 20 phút đầu rồi 5 phút/ một lần trong thời gian mổ còn lại, rồi 15 phút/ một lần khi ở phòng hồi tỉnh.Bệnh nhân tiếp tục được theo dõi 6 giờ đầu sau mổ tại phòng hậu phẫu. Ghi lại thời điểm bệnh nhân đau với VAS > 4.
Với trẻ mổ đẻ ra được đo tần số tim, điểm Apgar 1 phút và 5 phút, tiến hành lấy mẫu đo khí máu động mạch và tĩnh mạch rốn ngay tại khoa hóa sinh. Dùng thuốc co mạch phenylephrine: ngay sau khi GTTS, truyền liên tục phenylephrine bằng bơm tiêm điện qua catheter tĩnh mạch ngoại vi riêng, liều dự phòng 15 mcg/ phút đến khi đóng da. Nếu HA tâm thu thấp > 20% giá trị nền thì tiêm bolus phenylephrine 50 mcg -100mcg-100mcg/ lần cách nhau 2 phút nếu huyết áp vẫn thấp. Nếu huyết áp vẫn thấp sau 3 lần tiêm bolus (250mcg phenylephrine) thì truyền nhanh trong 15 phút 7 ml/kg dịch keo Hes 6% hợp truyền adrenaline tĩnh mạch qua bơm tim điện với liều bắt đầu 0.05 mcg/kg/phút rồi dò liều theo huyết áp. Nếu HA tăng > 20% mức nền thì giảm 1/3 liều phenylephrine trong bơm tiêm điện.
Nhóm nghiên cứu đánh giá HATT, HATTr, HATB ở nhóm nghiên cứu có tụt HA phải điều trị, ở nhóm chỉ dự phòng ở các thời điểm nghiên cứu. Đánh giá tỷ lệ tụt HA, tỷ lệ tăng HA (>20% nền), mức độ tụt HA (thấp nhất), thời gian tụt HA (trung bình và dài nhất). Tỷ lệ tái tụt HA.
Đánh giá đáp ứng thuốc co mạch: Liều trung bình ở mỗi bệnh nhân và ở mỗi nhóm, ở mỗi bệnh nhân có tụt HA, CO (cardiac output), SV (stroke volume), SVR (systemic vascular resistance), đáp ứng với dịch truyền: lượng dịch truyền trung bình; Ở mỗi bệnh nhân có tụt HA; Tần số tim: trung bình, tỷ lệ nhịp tim nhanh (>100 lần/phút) hoặc chậm (<60 lần/phút), tỷ lệ loạn nhịp tim. Đánh giá các tác dụng không mong muốn (nôn, buồn nôn, đau đầu, ngứa sau mổ). Ở trẻ sơ sinh, đánh giá tần số tim; điểm Apgar 1 phút, 5 phút; pH cuống rốn (động mạch rốn, tĩnh mạch rốn); tuổi thai, cân nặng, giới tính. Thời gian nằm hồi tỉnh (đến khi đạt điểm Aldrete >9 điểm). Các tiêu chí đánh giá khác như tuổi, cân nặng, tiền sử mổ đẻ của mẹ.
Minh Tâm