Trầm cảm là một bệnh lý rối loạn cảm xúc phổ biến chiếm khoảng 5% dân số. Biểu hiện lâm sàng của bệnh trầm cảm nổi bật là một trạng thái cảm xúc buồn rầu, chán nản, u uất, đi kèm với sự ức chế tất cả các mặt hoạt động tâm thần. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp ở tuổi từ 18-45, nữ giới mắc nhiều hơn so với nam giới (2/1).
Trầm cảm nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời có thể ảnh hưởng đến lao động, học tập, sinh hoạt, nguy cơ mắc thêm các rối loạn phối hợp khác và có nguy cơ tự sát.

Theo các chuyên gia sức khỏe tâm thần, trầm cảm có thể điều trị khỏi hoàn toàn và không làm biến đổi nhân cách. Trầm cảm nặng cần được theo dõi điều trị tại bệnh viện. Kết quả điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, việc điều trị bằng thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi bệnh. Đa số bệnh trầm cảm đáp ứng tốt với thuốc chống trầm cảm. Các chuyên gia lưu ý đối với công tác điều trị, việc lựa chọn thuốc và liều thuốc chống trầm cảm phù hợp với người bệnh cũng như việc lựa chọn các thuốc hướng thần khác kết hợp trong điều trị đóng vai trò rất quan trọng. Khi người bệnh đáp ứng kém với nội trú, người bệnh cần tiếp tục giai đoạn điều trị duy trì ngoại trú khoảng 2 năm để tránh tái phát.
Từ tháng 1-10/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đặng Hoàng Anh cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu, so sánh trước và sau điều trị báo cáo đề tài “ Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị trầm cảm tại Khoa Tâm thần Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện Tâm thần Thái Nguyên”. Đối tượng nghiên cứu có 46 bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm; các bệnh nhân được chẩn đoán xác định trầm cảm theo tiêu chí ICD 10. Những bệnh nhân có tổn thương thực thể tại não, bệnh nhân không tuân thủ điều trị, bệnh nhân hoặc gia đình từ chối đều không mời tham gia nghiên cứu.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, lứa tuổi gặp chủ yếu trong nghiên cứu từ 16-60 tuổi chiếm 82,5%; nữ giới chiếm đa số với 37/46 bệnh nhân (80,4%). Có 50% đối tượng nghiên cứu có trình độc học vấn trung học cơ sở; chỉ có 03 bệnh nhân học ở cấp tiểu học.
BS.Hoàng Anh phân tích, về thời gian theo dõi điều trị của đối tượng nghiên cứu, đa số bệnh nhân được điều trị 2 tuần (65,2%); chỉ có 03 bệnh nhân được theo dõi điều trị hết tuần thứ 4. Tác giả nghiên cứu nhận xét, thời gian điều trị này ngắn hơn so với thời gian điều trị khuyến cáo vì thông thường sau điều trị 10 ngày thuốc trầm cảm mới có tác dụng đầy đủ. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt nên khi thuốc chống trầm cảm có tác dụng thì các triệu chứng trầm cảm thuyên giảm và hết.
Trong nhóm nghiên cứu, đa số bệnh nhân được sử dụng thuốc chống trầm cảm mới như thuốc Mirtazapin; Sertralin; liều sử dụng trung bình và được sử dụng với thuốc bình thần, an thần kinh hoặc cả hai loại; các thuốc an thần kinh được sử dụng cũng là loại mới; Đây là sự kết hợp được các tác giả khuyến cáo nhằm nhanh chóng làm giảm triệu chứng, nâng cao hiệu quả điều trị.
Nhận xét kết quả điều trị bệnh dựa vào sự thay đổi của test Beck khi so sánh trước và sau điều trị; tác giả nghiên cứu báo cáo, sau 2-3 tuần điều trị, phần lớn bệnh nhân đạt được tình trạng thuyên giảm rõ rệt các triệu chứng. Có 70 % bệnh nhân có điểm Beck giảm từ 5 điểm trở lên so với lúc vào bệnh viện; không có trường hợp nào có điểm Beck mức nặng khi ra viện (trên 15 điểm). Tác giả nghiên cứu cho rằng, dù thời gian điều trị ngắn, nhưng do đã sử dụng các thuốc chống trầm cảm mới, kết hợp một cách linh hoạt với các thuốc hướng thần khác nên đã mang lại kết quả điều trị tích cực cho người bệnh.
BS.Hoàng Anh nhận xét, yếu tố tuổi, trình độ học vấn không có sự khác biệt đối với kết quả điều trị. Đối với nữ có kết quả điều trị thuyên giảm bệnh tốt hơn so với đối tượng nam giới (p < 0,05). Bệnh nhân mắc bệnh lần đầu cũng có kết quả điều trị tốt hơn so với những bệnh nhân tái bệnh (p < 0,05). Đối với những bệnh nhân có stress tâm lý, tiền sử gia đình có người trầm cảm có tác động ảnh hưởng không tốt đến kết quả điều trị người bệnh.
Tác giả nghiên cứu cũng chia sẻ, có sự khác biệt về kết quả điều trị trầm cảm giữa các mức độ bệnh trầm cảm đánh giá tại thời điểm lúc vào viện; so với mức độ bệnh nhẹ và vừa, những bệnh nhân có mức độ nặng có chuyển biến rõ rệt hơn (p < 0,01). Hạn chế của nghiên cứu là số đối tượng nghiên cứu ít, thời gian theo dõi điều trị hạn chế; đối với những bệnh nhân có mức độ bệnh nặng các thay đổi về triệu chứng dễ nhận thấy hơn so với nhóm bệnh nhẹ.
Trần Hưng