[Đăng ngày: 30/01/2018]
U tuyến ức là tổn thương thường gặp trong các loại u vùng trung thất trước. Độ tuổi hay gặp là 40 – 60 tuổi; tỉ lệ nam/nữ là 1/1. Thống kê của Hội Ung thư Mỹ, tỉ lệ u tuyến ức khoảng 15/100.000 dân.

Các trường hợp u tuyến ức đều có khả năng xâm lấn nên các tác giả nghiên cứu xem đây là bệnh ác tính. Có khoảng 50% các bệnh nhân u tuyến ức không có triệu chứng lâm sàng; khoảng 30% các bệnh nhân u tuyến ức có triệu chứng nhược cơ.

Theo các chuyên gia ung bướu, việc xác định týp mô bệnh học của tuyến ức, liên quan tình trạng lâm sàng của bệnh nhân trước phẫu thuật có vai trò quan trọng trong chẩn đoán, giúp chỉ định phẫu thuật và tiên lượng bệnh, giúp đề ra phương pháp điều trị phù hợp đối với người bệnh sau phẫu thuật.

Từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Ngọc Trung cùng cộng sự Bệnh viện Quân Y 103 tiến hành nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nhận xét mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng và mô bệnh học u tuyến ức”. Đối tượng nghiên cứu có 54 bệnh nhân u tuyến ức được phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật lồng ngực Tim Mạch – Bệnh viện Quân Y 103. Tiêu chuẩn chọn bệnh là những bệnh nhân được chẩn đoán xác định mô bệnh học sau mổ là u tuyến ức. Về triệu chứng nhược cơ được phân chia giai đoạn theo Osserman P; xét nghiệm mô bệnh học sau mổ tại khoa giải phẫu bệnh – Bệnh viện Quân Y 103; phân týp mô bệnh học theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới.

BS Trung phân tích, trong số 54 bệnh nhân u tuyến ức trong nghiên cứu, độ tuổi trung bình là 44,46; nhóm tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 40 – 59 tuổi với tỉ lệ 55,5%; lứa tuổi > 60 tuổi chiếm 6/54 bệnh nhân (11,1%); nhóm tuổi < 40 có 18/54 bệnh nhân (33,3%). Tỉ lệ nam giới là 31/54 bệnh nhân (57,4%); tỉ lệ nam/nữ là 1,13/1.

Theo tác giả nghiên cứu, nhóm 50 – 59 tuổi là nhóm có tỉ lệ u nhiều nhất với 16/54 bệnh nhân (29,6%), nhóm > 60 tuổi chỉ có 6 bệnh nhân. Trong nhóm từ 40 – 49 tuổi tỉ lệ u tuyến ức týp AB cao với 6/14 bệnh nhân. Liên quan týp mô bệnh học với tuổi không có ý nghĩa thống kê. Ở cả nam và nữ tỉ lệ u tuyến ức týp AB chiếm tỉ lệ cao với 20/54 bệnh nhân (37%); trong đó nam 20,4% và nữ là 16,7%. Các týp B3 và týp C có tỉ lệ thấp nhất.

Tác giả nghiên cứu nhận xét, kết quả các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy u tuyến ức chủ yếu là týp A và týp AB; lứa tuổi chủ yếu là lứa tuổi trung niên, trung bình khoảng 40 – 50 tuổi; hầu hết nam nhiều hơn nữ nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê; tỉ lệ ung thư tuyến ức hầu như gặp ở lứa tuổi thấp hơn so với u tuyến ức.

Về yếu tố liên quan giữa triệu chứng nhược cơ với các týp mô bệnh, tác giả báo cáo trong 54 bệnh nhân u tuyến ức có 35/54 bệnh nhân có triệu chứng nhược cơ (64,8%). Trong 35 bệnh nhân u tuyến ức có triệu chứng nhược cơ, nhóm IIA có tỉ lệ cao nhất với 27/35 bệnh nhân chiếm 77,2%; trong đó tỉ lệ u tuyến ức týp AB chiếm cao nhất với 13/35 bệnh nhân (37,1%). Đặc biệt là các bệnh nhân có triệu chứng nhược cơ không có bệnh nhân nào u tuyến ức týp B3 và týp C; không có mối liên quan týp mô bệnh với triệu chứng nhược cơ (p > 0,05). Kết quả trong nghiên cứu cũng có nhận xét, tỉ lệ u tuyến ức có triệu chứng nhược cơ cao hơn, các bệnh nhân nhược cơ không có trường hợp nào u tuyến ức týp B3 và týp C; mức độ nặng của triệu chứng nhược cơ trên lâm sàng không liên quan đến týp mô bệnh học.

Đối với mối liên quan giữa kích thước và mức độ xâm lấn của khối u; có 36/54 bệnh nhân (66,7%) có xâm lấn vỏ u. Tỉ lệ có xâm lấn vỏ ở nhóm có kích thước u từ 5 – 9cm chiếm tỉ lệ cao nhất với 20/54 bệnh nhân (37%); tác giả cho biết khi so sánh tương quan về kích thước u với mức độ xâm lấn, khối u càng lớn tỉ lệ xâm lấn càng cao (p < 0,05). Trong nghiên cứu, tỉ lệ đối tượng nghiên cứu có 1 khối u có 43/54 bệnh nhân (79,6%); trong đó tỉ lệ có 1 khối u có xâm lấn vỏ chiếm tỉ lệ cao nhất (53,7%). Các kết quả nhiều nghiên cứu khác cho thấy có mối liên quan týp mô bệnh và mức độ xâm lấn của khối u. Về tiên lượng týp A, AB và B1 có nguy cơ thấp, týp B2 và B3 tiên lượng trung gian, còn týp C tiên lượng xấu nhất.

BS Trung lưu ý, khi khối u càng lớn thì khả năng xâm lấn càng cao, tuy nhiên số lượng khối u lại không liên quan khả năng xâm lấn. Tuy vậy tiên lượng chính của bệnh lại dựa vào týp mô bệnh là chính, bên cạnh đó mức độ xâm lấn của khối u chỉ có ý nghĩa góp thêm vào để đánh giá mức độ điều trị và còn phụ thuộc vào khả năng phẫu thuật có cắt bỏ được hết khối u hay không.

Tuyến ức nằm ở trong lồng ngực, phía sau xương ức, trải dài từ phía dưới cổ họng đến trước tim. Ở trẻ sơ sinh nặng 10 – 15g, lứa tuổi trưởng thành tuyến ức nặng 25 – 35g. Khi về già tuyến ức thoái triển thành mô liên kết hoặc khối mỡ. Tuyến ức là cơ quan quan trọng tạo ra hệ miễn dịch; biến đổi tế bào lympho T từ dạng tế bào non thành tế bào trưởng thành và có chức năng miễn dịch. Tuyến ức có mật độ mềm, màu xám nhạt ở trẻ em và trở thành màu vàng ở người trưởng thành do có nhiều tế bào mỡ.
Hồng Sơn
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 196

Số lượt truy cập: 9290312

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang