Ở phụ nữ mang thai, giảm tiểu cầu là một trong những nguyên nhân có thể gây chảy máu sau đẻ thậm chí tử vong cho mẹ và sơ sinh do rối loạn quá trình đông máu, cầm máu.

Theo các chuyên gia sản khoa, giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu, hiện chỉ điều trị triệu chứng là ức chế miễn dịch, các phương pháp hiện nay ít nhiều đều có ảnh hưởng đến thai nhi. Việc điều trị giảm tiểu cầu trên phụ nữ có thai rất phức tạp, phải cân nhắc rất kỹ về liều lượng lẫn thời gian nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất tối đa tác dụng phụ đến thai nhi.
Từ tháng 01/2013 đến 06/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quảng Bắc cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản trung ương thực hiện nghiên cứu mô tả kết hợp hồi cứu và tiến cứu có theo dõi dọc, báo cáo đề tài “Nghiên cứu xử trí thai phụ giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân trong chuyển dạ”. Nghiên cứu thực hiện 02 giai đoạn; hồi cứu từ ngày 01/01/2013 đến 31/12/2015; giai đoạn tiến cứu từ 01/01/2016 đến 30/6/2016. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân đang mang thai và kết thúc thai nghén tại Bệnh viện phụ sản trung ương; tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu gồm phụ nữ có thai, xét nghiệm máu ngoại vi có số lượng tiểu cầu ≤ 100 G/l; sản phụ chỉ có 01 thai, tuổi thai ≥ 22 tuần; chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.Tiêu chuẩn loại trừ không chọn đối tượng nghiên cứu là giảm tiểu cầu do suy tủy xương, bệnh lý ác tính, bệnh hệ thống do vi rút, do thuốc…
Tác giả nghiên cứu báo cáo có 166 thai phụ giảm tiểu cầu chưa rõ nguyên nhân, đủ tiêu chuẩn lựa chọn có tuổi thai khi chuyển dạ đẻ từ 31-42 tuần được nghiên cứu. Trong đó đẻ thường có 37 ca, đẻ Forceps có 01 ca, mổ lấy thai có 128 ca. Tác giả phân tích, khi so sánh số lượng tiểu cầu trung bình ở nhóm mổ lấy thai có số lượng tiểu cầu trung bình là 58,47 G/l; nhóm đẻ thường là 71, 24 G/l (p < 0,05).

Tác giả cho biết, thường những sản phụ có số lượng tiểu cầu thấp thì mổ lấy thai nhằm kiểm soát tình trạng chảy máu của sản phụ khi chuyển dạ đẻ, đặc biệt là những sản phụ có số lượng tiểu cầu dưới 50 G/l thì nguy cơ xuất huyết não khi bệnh nhân rặn đẻ là rất cao. Chính vì vậy, bệnh nhân có số lượng tiểu cầu thấp thường được mổ lấy thai, đặc biệt là đối với bệnh nhân có số lượng tiểu cầu dưới 50 G/l. Trong nghiên cứu có 6 trường hợp số lượng tiểu cầu dưới 50 G/l nhưng chuyển dạ đẻ thường, các trường hợp này đều là con rạ, khi vào viện cổ tử cung đã mở hết, đầu lọt thấp, có trọng lượng thai trung bình nên được cho đẻ đường âm đạo.
Trong nghiên cứu, có 60 thai phụ khi chuyển dạ không phải truyền tiểu cầu; có 106 thai phụ phải truyền tiểu cầu, bao gồm cả tiểu cầu máy và tiểu cầu thường; số đơn vị tiểu cầu trung bình truyền cho mỗi sản phụ là 2,76 đơn vị; trong nhóm truyền tiểu cầu có 43 thai phụ truyền 2 đơn vị tiểu cầu; có 33 thai phụ truyền 01 đơn vị tiểu cầu.
Tác giả cho biết, đối tượng nghiên cứu chủ yếu được truyền khối tiểu cầu; có 6 trường hợp phải truyền khối hồng cầu và có 2 trường hợp phải truyền huyết thanh tươi đông lạnh. Các trường hợp truyền khối hồng cầu là các bệnh nhân sau mổ đẻ có tai biến chảy máu phải mổ lại cắt tử cung nên phải truyền máu; còn các trường hợp khác do bệnh nhân có tình trạng thiếu máu có nguy cơ chảy máu nên cần phải truyền máu.
Bệnh nhân truyền huyết thanh tươi đông lạnh là bệnh nhân mổ đẻ lần đầu; thai 39 tuần, có số lượng tiểu cầu khi vào viện và khi chuyển dạ lần lượt là 3 G/l và 10 G/l. Khi mổ lấy thai bệnh nhân được truyền 6 khối tiểu cầu máy và 2 đơn vị huyết thanh tươi đông lạnh; trường hợp bệnh nhân còn lại là sau mổ đẻ có biến chứng chảy máu nên được tiến hành cắt tử cung và được truyền 6 đơn vị khối hồng cầu và 2 đơn vị huyết thanh tươi đông lạnh. Ở nhóm truyền tiểu cầu, 100% sản phụ có số lượng tiểu cầu giảm nặng (tiểu cầu dưới 20 G/l). Nhóm có số lượng tiểu cầu từ 20 – 50 G/l có 39 bệnh nhân (95%) phải truyền tiểu cầu; chỉ có 2 bệnh nhân không có chảy máu sau đẻ, xét nghiệm thấy tiểu cầu tăng nên không truyền tiểu cầu. Tác giả lưu ý việc truyền tiểu cầu khi chuyển dạ đẻ phụ thuộc số lượng tiểu cầu của sản phụ, còn số lượng đơn vị tiểu cầu truyền cho mỗi sản phụ phụ thuộc thai kỳ là con so hay con rạ, tình trạng lâm sàng và tình trạng mất máu khi đẻ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% sản phụ có số lượng tiểu cầu khi chuyển dạ dưới 20 G/l đều phải truyền tiểu cầu; có 3 trường hợp đẻ thường có số lượng tiểu cầu 8 – 19 G/l. Các sản phụ đều sinh con đủ tháng, khi sinh mẹ con ổn định. Nghiên cứu có 2 trường hợp không phải truyền tiểu cầu, 1 trường hợp mổ lấy thai 39 tuần khi số lượng tiểu cầu vào viện là 31 G/l; lúc chuyển dạ là 42 G/l; 1 trường hợp đẻ thường âm đạo 33 tuần, số lượng tiểu cầu lúc vào viện là 53 G/l; lúc chuyển dạ là 50 G/l. Cả 2 trường hợp không có biểu hiện xuất huyết, không có dấu hiệu chảy máu nên không truyền tiểu cầu, khi mẹ con ra viện đều ổn định.
Tác giả nghiên cứu có kết luận, sản phụ có số lượng tiểu cầu dưới 50 G/l thì hướng xử trí chủ động truyền tiểu cầu và chủ động mổ lấy thai.
Nghi Anh