Theo Bộ Y tế, mạng lưới y tế cơ sở là tuyến y tế ban đầu gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp nhất và hiệu quả nhất; đặc biệt người dân ở khu vực miền núi, vùng sâu, xa, hải đảo.
Mạng lưới y tế của Việt Nam được tổ chức đến thôn, bản. Hiện cả nước có 11.400 Trạm y tế xã; gần 99% xã, phường, thị trấn đã có nhà trạm; 87,5% Trạm Y tế có bác sĩ khám chữa bệnh; 97% có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi; gần 75% thôn bản tổ dân phó có nhân viên y tế hoạt động; trong đó ở nông thôn, miền núi là 96%.

Nhờ mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu triển khai sâu rộng như tiêm chủng mở rộng; phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, chăm sóc sức khỏe Bà mẹ trẻ em, Dân số - Kế hoạch hóa gia đình. Một số Trạm y tế xã bước đầu thực hiện được công tác quản lý một số bệnh không lây nhiễm, bệnh mạn tính như tim mạch, huyết áp, đái tháo đường theo mô hình bác sĩ gia đình. Người dân sử dụng nhiều hơn các dịch vụ khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở. Đến tháng 2/2018, toàn quốc đã triển khai khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế tại khoảng 80% tổng số Trạm y tế.
Quan điểm của Bộ Y tế là xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả - phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh; Y tế dự phòng là then chốt; Y tế cơ sở là nền tảng; hướng tới mục tiêu thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe và Bảo hiểm y tế toàn dân theo chỉ đạo từ Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6, khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
Bộ Y tế nhấn mạnh tại các Bệnh viện cần làm tốt việc giảm quá tải, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh theo bộ tiêu chí quốc tế; xây dựng môi trường xanh sạch đẹp, thân thiện, cải cách hành chính, giảm phiền hà cho người bệnh; ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến để dự phòng, chẩn đoán và điều trị. Một vấn đề cần quan tâm là đưa giá dịch vụ y tế về giá trị thực gắn với lộ trình Bảo hiểm y tế toàn dân; nhà nước hỗ trợ khám chữa bệnh cho các đối tượng chính sách, hoàn cảnh khó khăn.
Vấn đề cần quan tâm đó là việc thực hiện các chính sách và kết quả thu được chủ yếu dành cho những người dân đã bị mắc bệnh, còn đại bộ phận người dân chưa mắc bệnh cần phải có những chính sách, giải pháp gì để tất cả vùng, miền, không phân biệt nhóm dân cư đều được bảo vệ, chăm sóc, quản lý, theo dõi và khám sức khỏe định kỳ tại cộng đồng ngay từ khi mới sinh và trong suốt cuộc đời theo nguyên lý y học gia đình nhằm nâng cao tuổi thọ, chất lượng cuộc sống, qua đó góp phần nâng cao sự phát triển kinh tế xã hội địa phương. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 6, đầu tư cho y tế cơ sở hướng tới bao phủ sức khỏe toàn dân là giải quyết được vấn đề còn tồn tại đó.
Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) từ năm 2010 – 2015 đã được triển khai mở rộng, chương trình đã tập trung vào nhiều nội dung chăm sóc, chất lượng chăm sóc, qua đó góp phần vào việc thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Quốc gia cũng như các mục tiêu của chiến lược Dân số/SKSS Việt Nam.

Theo báo cáo của các cơ quan Liên Hiệp quốc như Tổ chức Y tế thế giới (WHO); UNICEF, Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc, Ngân hàng Thế giới, Tạp chí Lacet, từ năm 2013, tử vong mẹ ở Việt Nam đã giảm còn khoảng 56,6/100.000 trẻ đẻ sống, đạt chỉ tiêu Thiên niên kỷ số 5 đặt ra là 58,3/100.000 trẻ đẻ sống. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em như tỷ lệ phụ nữ được quản lý thai, tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai > 3 lần trong 3 thời kỳ, tỷ lệ bà mẹ sinh đẻ có cán bộ y tế hỗ trợ, tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tại nhà sau sinh.
Tác giả Trần Đăng Khoa cùng cộng sự Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế đã thu thập số liệu công tác chăm sóc SKSS tại Trung tâm chăm sóc SKSS tỉnh của 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2010 – 2015; báo cáo thực trạng công tác chăm sóc SKSS trong toàn quốc. Tìm hiểu những khó khăn, tồn tại và các giải pháp thực hiện chăm sóc SKSS tại các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Gia Lai, KonTum, Ninh Thuận, Tây Ninh.
Tác giả chia sẻ, khu vực miền núi phía Bắc, tỷ lệ khám thai 3 lần trong 3 kỳ thai nghén thấp hơn so với tỷ lệ chung toàn quốc; 80% so với 90%. Có lẽ nguyên nhân do việc khó khăn trong đi lại, điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hơn. Đối với công tác tiêm phòng uốn ván, giai đoạn 2010 – 2015, thông qua công tác tiêm chủng mở rộng, cung cấp đủ vacxin, công tác truyền thông, vận động, người phụ nữ nhận thức được tầm quan trọng của việc tiêm phòng đủ các mũi vacxin uốn ván, nên kết quả tốt với tỷ lệ toàn quốc là 95,9%; ổn định qua các năm. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có khoảng 29.000 bà mẹ đẻ không được nhân viên y tế đỡ, tập trung khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một số huyện miền núi miền Trung, Bắc Trung Bộ. Tỷ lệ bà mẹ/trẻ sơ sinh được chăm sóc sau sinh đạt 93%. Năm 2015, tỷ lệ chăm sóc trong tuần đầu tăng nhẹ so với giai đoạn 2010 – 2015.
Tác giả có kết luận, các chỉ số lĩnh vực chăm sóc SKSS Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 đã đạt được khá cao, thành tựu quan trọng của ngành Y tế; góp phần trực tiếp việc giảm tỷ lệ tử vong mẹ, giảm tử vong trẻ em; được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên vẫn chú ý những vùng trung du, miền núi là những vùng có các chỉ số về chăm sóc SKSS thấp nhất so với các vùng khác. Tác giả khuyến nghị cần quan tâm đẩy mạnh hơn công tác truyền thông, vận động phụ nữ để có thực hành đúng như đi khám thai đầy đủ, đẻ tại cơ sở y tế hoặc cán bộ y tế được đào tạo đỡ đẻ tốt.
Văn Hanh