{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS
[Đăng ngày: 07/12/2016]
Theo tổ chức phòng chống HIV/AIDS liên hiệp quốc UNAIDS, nhờ sự tiến bộ của điều trị thuốc kháng vi rút ARV đã làm giảm 80% số trường hợp tử vong, giảm số ca mắc bệnh AIDS và các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ tử vong nói chung người nhiễm HIV/AIDS giảm từ 39,3 trên 100 người – năm của năm 2002 xuống còn 14,2 trên 100 người – năm trong năm 2009.
Vừa qua nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Mỹ Tiên cùng cộng sự Trung tâm Y tế Dự phòng quận 6, thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Trung tâm Y tế Dự phòng Quận 6”. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV tại Trung tâm Y tế Dự phòng Quận 6 từ tháng 8/2005 đến tháng 3/2014. Mục tiêu nghiên cứu là (1) xác định tỷ lệ bỏ trị, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV của bệnh nhân HIV/AIDS tại Trung tâm Y tế dự phòng Quận 6. (2) Xác định tỷ suất không tuân thủ điều trị ARV. (3) Xác định mối liên quan giữa tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV với các đặc tính của mẫu nghiên cứu.
Theo phân tích kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Tiên, tổng số đối tượng nghiên cứu là 1958 người, đa số trong độ tuổi từ 30-39 tuổi, nam giới chiếm đa số(77%). Số liệu gần như phù hợp với báo cáo của Bộ Y tế về công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2012. Dân tộc Kinh chiếm 92%, hoàn toàn phù hợp với đặc điểm phân bố dân số tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011. Với tỷ lệ bệnh nhân cư trú tại quận/huyện khác và các tỉnh/thành khác, 71% đối tượng có việc làm. Có đến 95% bệnh nhân hiện vẫn sinh sống cùng với gia đình. Bệnh nhân độc thân chiếm tỷ tỷ lệ 45% và đang sống chung như vợ/chồng chiếm tỷ lệ 44% còn lại người ly thân/ly hôn/góa chiếm tỷ lệ thấp (11%).
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có sử dụng rượu/bia và thuốc lá tương đối cao 78%. Trong mẫu nghiên cứu, có 1218 bệnh nhân có sử dụng ma túy trong quá trình điều trị ARV chiếm tỷ lệ 62%. Đa số bệnh nhân nhận được sự hỗ trợ từ phía gia đình (98%). Tỷ lệ bệnh nhân báo cáo không có tác dụng phụ thuốc chiếm 37%.
Bệnh nhân đồng nhiễm HBV, HCV lần lượt là 14% và 40%. Trong suốt thời gian điều trị có 1114 đối tượng mắc bệnh lao chiếm 57% cao hơn rất nhiều so với tỉ lệ mắc lao trong cộng đồng là 3,07%. Có 46% bệnh nhân nhiễm trùng cơ hội khác: nấm miệng, zona, nấm da…Trong suốt thời gian điều trị ARV tại Quận 6 có 241 bệnh nhân bỏ trị, chiếm tỷ lệ 12,3%. Thời gian điều trị càng dài, tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị càng cao, trong tổng số 241 bệnh nhân bỏ trị ARV thì ở thời điểm 1 năm có 82 bệnh nhân bỏ trị chiếm tỷ lệ 4,2%, đến năm thứ 5 có đến 226 bệnh nhân bỏ trị ARV, chiếm tỉ lệ 11,5%. Tỉ lệ tuân thủ điều trị ARV của 1958 đối tượng nghiên cứu là 71%. Nhìn chung mức độ tuân thủ điều trị có khác nhau ở mỗi nghiên cứu là tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc điểm dân số xã hội của mỗi đối tượng, cách đo lường tuân thủ điều trị, tiêu chí đo lường có thể khác nhau. Tỷ suất không tuân thủ điều trị của 1958 bệnh nhân là 0,55 có ý nghĩa là trong một năm bệnh nhân phải tái khám đúng định kỳ là 12 lần thì có 0,55 lần bệnh nhân không đến tái khám đúng lịch hẹn bác sĩ.
Kiểm soát yếu tố liên quan đến tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV, tác giả nghiên cứu phân tích có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ tuân thủ điều trị ARV và nhóm tuổi: tuổi càng lớn thì tỷ lệ tuân thủ càng cao. Nữ giới tuân thủ điều trị cao hơn so với nam giới, có thể do đặc tính của nữ giới cẩn thận, chu đáo và có trách nhiệm với bản thân và gia đình hơn so với nam giới nên họ ý thức trong việc tuân thủ điều trị để có sức khỏe tốt hơn để chăm sóc cho bản thân và gia đình.
Những bệnh nhân cư trú tại các tỉnh/thành khác lại tuân thủ điều trị tốt hơn những người cư trú tại Quận 6 hay thành phố Hồ Chí Minh. Lý giải cho vấn đề này là do những người cư trú tại các tỉnh, thành khác không có điều kiện thuận lợi: khoảng cách về mặt địa lí, chi phí đi lại…so với các bệnh nhân ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng họ vẫn không chuyển điều trị về địa phương nơi họ sinh sống để tiếp tục điều trị vì sợ mọi người xung quanh biết mình nhiễm HIV, nên họ ý thức được việc phải tuân thủ điều trị ARV để có sức khỏe tốt và sống một cuộc sống bình thường như tất cả những người bình thường khác. Những người không có việc làm tuân thủ điều trị tốt hơn những người có việc làm, vì theo tác giả bận việc là một trong những lí do khiến bệnh nhân quên uống thuốc nhiều nhất.
Bệnh nhân ly hôn/ly thân/góa tuân thủ điều trị tốt hơn so với bệnh nhân độc thân hoặc đang sống như vợ/chồng. Nhóm người có thời gian nhiễm HIV dưới 3 năm tuân thủ điều trị cao hơn so với nhóm người có thời gian nhiễm cao hơn, thời gian nhiễm HIV càng dài thì bệnh nhân càng lơ là tình trạng sức khỏe của mình. Bệnh nhân có nhiễm viêm gan siêu vi C có khả năng tuân thủ thấp hơn so với bệnh nhân không nhiễm viêm gan siêu vi C.
Tác giả nghiên cứu cũng nhận xét tương tự như bệnh nhân sử dụng Methadone, bệnh nhân sử dụng ARV cũng phải uống thuốc hàng ngày và đòi hỏi mức độ tuân thủ cao, nhưng việc bệnh nhân có nhiễm HCV thường không quan tâm đến tình trạng sức khỏe của mình đồng nghĩa với việc tuân thủ điều trị thấp. Những bệnh nhân có sử dụng rượu/bia thuốc lá và ma túy tuân thủ điều trị kém hơn so với các bệnh nhân không có sử dụng, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Phụ thuộc ma túy là một trong những yếu tố cản trở tuân thủ điều trị ARV. Tác giả lưu ý khi bệnh nhân phụ thuộc ma túy thì bệnh nhân lại ít quan tâm đến các vấn đề khác, chỉ quan tâm làm thế nào để thỏa mãn được cơ nghiện của mình, nên đó là vấn đề được đặt lên hàng đầu, cho nên uống ARV chỉ là thứ yếu, không được xem trọng, dẫn đến việc không tuân thủ là tất yếu.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Mỹ Tiên kết luận bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS điều trị ARV càng lớn tuổi là nữ giới và không đồng nhiễm HCV, không sử dụng rượu, bia, thuốc lá và ma túy tuân thủ điều trị tốt hơn. Tác giả có kiến nghị là cần xây dựng định hướng truyền thông phù hợp nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị, hạn chế bỏ trị, tránh kháng thuốc.
Văn Hanh
Chi tiết
Các tin khác
05/12/2016:
Phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh nên đo mật độ xương
29/11/2016:
Nâng tầm chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân
28/11/2016:
Các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS
28/11/2016:
Bệnh nhân HIV/AIDS vào viện ở giai đoạn muộn
28/11/2016:
Tầm quan trọng điều chỉnh tâm lý trong điều trị ung thư vú
25/11/2016:
Chất lượng cuộc sống bệnh nhân HIV/AIDS
24/11/2016:
Cải thiện sức nghe ở người cao tuổi
20/11/2016:
Tổn thương não do Toxoplasma Gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS
18/11/2016:
Kiến thức – thái độ thực hành về điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS
15/11/2016:
Yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị Methadone
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
393
Số lượt truy cập:
9365928
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa