Sử dụng ma túy tổng hợp liên quan đến tăng nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục trên thế giới. Sử dụng ma túy tổng hợp (MTTH) có liên quan đến hành vi nguy cơ về tình dục và tiêm chích.
Tác giả nghiên cứu Dương Công Thành và cộng sự Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tiến hành nghiên cứu đề tài “Sử dụng ma túy tổng hợp trong nhóm tiêm chích ma túy ở Việt Nam: hàm ý can thiệp cho nhóm tiêm chích ma túy sử dụng ma túy tổng hợp”.

Nghiên cứu được thực hiện năm 2013, đối tượng nghiên cứu là nam giới trên 18 tuổi có tiêm chích ma túy (TCMT) trong 1 tháng qua tại 8 tỉnh.Người tham gia được hỏi về hành vi tình dục, TCMT và được xét nghiệm HIV. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV là 25,6% và sử dụng ma túy tổng hợp (MTTH) là 25%. Trong số những người sử dụng MTTH, tuổi trung bình là 31,3 so với 33,5 ở người không sử dụng (p<0,01). Tỷ lệ nhiễm HIV là 22,1% ở những người sử dụng MTTH và 26,7% ở những người không sử dụng (p<0,01). Sử dụng MTTH là 50% ở người TCMT có bạn tính nam trong 12 tháng qua và 26,5% ở người không có bạn tình nam (p<0,01). Ở người sử dụng MTTH, dung chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua là 17,3% so với 12,2% ở người không sử dụng (p<0,01); và sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục lần cuối với vợ/ bạn gái là 36,7% so với 44,3% ở những người không sử dụng (p<0,01). Tỷ lệ sử dụng MTTH ở nhóm nam TCMT, đặc biệt ở những người có quan hệ tình dục đồng giới nam; những người sử dụng MTTH có nguy cơ lây nhiễm HIV như dung chung bơm kim tiêm và ít sử dụng bao cao su.Tác giả sử dụng phân tích đa biến để tìm hiểu các mối liên quan, hiểu biết nguy cơ của người TCMT và sử dụng MTTH giúp phát triển các chiến lược can thiệp cụ thể cho đối tượng này. Chương trình phòng chống HIV cho nhóm TCMT nên xem xét vai trò sử dụng MTTH trong lây truyền HIV sang bạn chích và bạn tình.
Một nghiên cứu khác cũng của Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương do tác giả Lê Anh Tuấn cùng cộng sự thực hiện là “Hiệu quả can thiệp lồng ghép cho người nghiện chích ma túy và thành viên gia đình tại tỉnh Phú thọ”. Theo tác giả nghiên cứu, gia đình đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người nghiện chích ma túy (NCMT) ở Việt Nam. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả can thiệp thử nghiệm lồng ghép cho người NCMT và thành viên gia đình thông qua một chương trình can thiệp cộng đồng ngẫu nhiên có đối chứng, với 83 người NCMT và 83 thành viên gia đình ở 4 xã/phường của tỉnh Phú Thọ tham gia. Những người NCMT và thành viên gia đình trong nhóm can thiệp tham gia các buổi can thiệp với mục đích cải thiện sức khỏe tinh thần và mối quan hệ trong gia đình để khuyến khích thay đổi hành vi tích cực.
Đánh giá trước và sau can thiệp, so sánh với nhóm đối chứng cho thấy giảm đáng kể dấu hiệu trầm cảm và cải thiện mối quan hệ gia đình ở nhóm NCMT. Thành viên gia đình ở nhóm can thiệp có kỹ năng đối mặt với khó khăn tốt hơn, giảm dấu hiệu trầm cảm và tăng mối quan hệ gia đình. Hiệu quả can thiệp không đáng kể ở những người NCMT trong việc thay đổi hành vi sử dụng ma túy. Nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của thành viên gia đình trong nỗ lực giảm tác hại của ma túy.

Tác giả Trần Văn Kiệm cùng cộng sự Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Quảng Nam tiến hành nghiên cứu “Hiệu quả can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy”; theo tác giả nghiên cứu được tiến hành tại 05 huyện trọng điểm HIV của tỉnh Quảng nam với các biện pháp can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV hai năm (2012-2013), bao gồm các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi, phân phát bao cao su, trao đổi bơm kim tiêm, tư vấn xét nghiệm tự nguyện. Kế quả cho thấy có sự thay dổi đáng kể về các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV như hành vi tiêm chích không an toàn đã giảm, tỷ lệ dung chung bơm kim tiêm trong 6 tháng qua giảm từ 33,5% xuống còn 22,6%; tỷ lệ dung chung bơm kim tiêm trong tháng qua giảm từ 21,2% xuống còn 13,7%. Hành vi an toàn tình dục có sự thay đổi đáng kể, tỷ lệ có quan hệ tình dục với gái mại dâm trong 12 tháng qua giảm từ 35,1% xuống 16,4%; tỷ lệ sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với gái mại dâm trong lần gần đây nhất tăng từ 65,4% lên 87,8%; tỷ lệ sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục với gái mại dâm tăng lên từ 65,6% lên 86,1%. Nghiên cứu đã khẳng định có sự cải thiện đáng kể trong việc giảm các hành vi có nguy cơ lây truyền HIV ở nhóm người NCMT; tác giả cũng kiến nghị cần thiết duy trì và phổ biến rộng các biện pháp can thiệp này.
Nguyên Khải