{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh nên đo mật độ xương
[Đăng ngày: 05/12/2016]
Loãng xương là hệ quả của sự rối loạn quá trình chuyển hóa xương dẫn đến mất chất khoáng trong xương, cấu trúc xương bị suy thoái và gia tăng nguy cơ gãy xương. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Loãng xương là một bệnh lý của xương được đặc trưng bởi khối lượng xương suy giảm kèm theo hư tổn cấu trúc xương dẫn đến tính dễ gẫy của xương, túc là có nguy cơ gẫy xương.
Loãng xương có 2 loại là loãng xương nguyên phát và thứ phát, trong đó loãng xương nguyên phát bao gồm 2 typ 1 (loãng xương ở phụ nữ đã mãn kinh) và týp 2 (loãng xương ở người già trên 60 tuổi). Loãng xương thứ phát do một số bệnh lý và thuốc gây nên. Phụ nữ sau mãn kinh, buồng trứng giảm sản xuất estrogen, Hormone estrogen tác động đến các tế bào tạo xương và tế bào hủy xương để ức chế sự hủy xương trong mọi giai đoạn của chu chuyển xương. Vì vậy, giảm mật độ xương hoặc loãng xương là một biến chứng thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh. Đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual Energy X ray Absorptiometry – DEXA) là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán loãng xương, và nó là một yếu tố dự báo chính nguy cơ gãy xương.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Lan, Đào Xuân Thành – Trường Đại học Y Hà Nội vừa qua đã báo cáo đề tài nghiên cứu “Nhận xét đặc điểm mật độ xương và các yếu tố liên quan ở phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh”. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang không có đối chứng. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: nữ giới từ 45 tuổi trở lên, sinh sống tại địa bàn khu vực miền Bắc Việt Nam, đến khám tại khoa khám bệnh theo yêu cầu bệnh viện Bạch Mai. Tất cả đối tượng nghiên cứu đều mãn kinh tự nhiên và chưa điều trị loãng xương bao giờ, đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân nữ đã và đang điều trị loãng xương, mãn kinh nhân tạo, không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Các đối tượng nghiên cứu được khám, đo chiều cao, cân nặng và hỏi tiền sử bệnh tật, tiền sử gãy xương tự nhiên và tiền sử sử dụng estrogen. Tất cả các đối tượng đều được đo mật độ xương trung tâm tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi bằng phương pháp DEXA (sử dụng máy Hologic Explorer). Mỗi đối tượng sẽ được thăm khám, chẩn đoán xác định các bệnh theo tiêu chuẩn hiện đại, được phỏng vấn theo bộ câu hỏi thống nhất bao gồm các chỉ số và biến số để tìm hiểu về những yếu tố liên quan đến loãng xương.
Kết qủa nghiên cứu, theo báo cáo của nhóm tác giả nghiên cứu cho thấy có 290 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình 59,1 ±8,9 (cao nhất: 88 tuổi, thấp nhất: 45 tuổi); chiều cao trung bình: 151,3±0,5cm (cao nhất 170 cm, thấp nhất 136,5 cm); Cân nặng trung bình: 52,5 ±3,1 (tỷ lệ người gầy chiếm 4,1%, người thừa cân – béo phì chiếm 46,2%); Tuổi mãn kinh trung bình: 48,8±3,6 (cao nhất: 58 tuổi, thấp nhất: 40 tuổi); Đa số đối tượng nghiên cứu có tuổi mãn kinh từ sau 45 tuổi chiếm tỷ lệ 77,2%; Thời gian mãn kinh: thời gian mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là 10,2±9,6 năm, chủ yếu < 10 năm chiếm tỷ lệ 63,4% từ 10-19 năm chiếm 19% và > 20 năm chiếm 17,6%.
Tiền sử viêm khớp dạng thấp và tiền sử dùng Estrogen: có 27/290 đối tượng nghiên cứu có tiền sử viêm khớp dạng thấp chiếm tỷ lệ 9,3% và có 52/290 đối tượng nghiên cứu có tiền sử dùng Estrogen và các chế phẩm có chứa Estrogen chiếm tỷ lệ 20,3%. Tiền sử gãy xương sau năm 45 tuổi: tỷ lệ gãy xương tự nhiên là 7,6%. Trong đó có 6,2% có tiền sử gãy xương ở 1 vị trí và 1,4% có tiền sử gã xương ở 2 vị trí, không có trường hợp nào gãy từ 3 vị trí trở lên. 92,4% còn lại không có tiền sử gãy xương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương 49,3%, 36,9% bị giảm mật độ xương và chỉ có 14,8% đối tượng nghiên cứu có mật độ xương bình thường. Đây là tỷ lệ bệnh khá cao so với nhiều nghiên cứu khác. Kết quả nghiên cứu mật độ xương tính theo chỉ số T-score ở CSTL trung bình là: 2,31±1,46 SD, thấp nhất là -4,9 SD, cao nhất là 0,81 SD. T-score CXĐ trung bình: -1,33±1,11 SD, thấp nhất là -3,2 SD, cao nhất là -0,48 SD. Giá trị T-score CSTL trung bình là T-score CXĐ trung bình giảm dần theo mức độ mất xương có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Mật độ xương tính theo T-score tại CSTL thấp hơn tại CXĐ với p<0,05.
Khi xét mối liên quan giữa MĐX và tuổi kết quả thu được T-score giảm dần theo độ tuổi. Tuổi càng cao thì mật độ xương càng giảm, sự liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Do vậy, tỷ lệ loãng xương cũng tăng theo độ tuổi: ở lứa tuổi 45-54, tỷ lệ loãng xương là 20,6%; 55-64 tuổi loãng xương tăng lên 53,5%, 65-74 tuổi tỷ lệ này là 72,1%, còn từ 75 tuổi trở lên thì 100% các đối tượng nghiên cứu bị giảm mật độ xương, trong đó loãng xương là 91,3%.
BMI vẫn được biết có mối liên quan với mật độ xương. Những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương. Kết quả, T-score ở CSTL và CXĐ có mối liên quan chặt chẽ với BMI, BMI càng thấp thì mật độ xương cũng càng thấp và ngược lại, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Theo WHO mãn kinh trước 45 tuổi được gọi là mãn kinh sớm. Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là: 48,8±3,6 (40-58 tuổi), có 22,8% đối tượng nghiên cứu mãn kinh sớm. Thời gian mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là 10,2±9,6 năm, mãn kinh <10 năm chiếm tỷ lệ 63,4%. Mật độ xương tại CSTL và CXĐ đều giảm dần theo thời gian mãn kinh: thời gian mãn kinh càng dài thì mật độ xương càng giảm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Tuy nhiên không thấy sự khác biệt về mật độ xương giữa 2 nhóm mãn kinh trước 45 tuổi và từ sau 45 tuổi.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Lan có kết luận nên đo mật độ xương ở những phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh để phát hiện sớm loãng xương và điều trị sớm tránh những biến chứng của loãng xương. Các yếu tố có liên quan đến mật độ xương là tuổi, BMI, thời gian mãn kinh, tiền sử VKDT, gãy xương và sử dụng Estrogen.
Mai Trang
Chi tiết
Các tin khác
29/11/2016:
Nâng tầm chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người dân
28/11/2016:
Các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS
28/11/2016:
Bệnh nhân HIV/AIDS vào viện ở giai đoạn muộn
28/11/2016:
Tầm quan trọng điều chỉnh tâm lý trong điều trị ung thư vú
25/11/2016:
Chất lượng cuộc sống bệnh nhân HIV/AIDS
24/11/2016:
Cải thiện sức nghe ở người cao tuổi
20/11/2016:
Tổn thương não do Toxoplasma Gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS
18/11/2016:
Kiến thức – thái độ thực hành về điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS
15/11/2016:
Yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị Methadone
13/11/2016:
Viêm loét giác mạc – bệnh dịch thầm lặng
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
409
Số lượt truy cập:
9365712
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa