[Đăng ngày: 05/12/2016]
Loãng xương là hệ quả của sự rối loạn quá trình chuyển hóa xương dẫn đến mất chất khoáng trong xương, cấu trúc xương bị suy thoái và gia tăng nguy cơ gãy xương. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa: Loãng xương là một bệnh lý của xương được đặc trưng bởi khối lượng xương suy giảm kèm theo hư tổn cấu trúc xương dẫn đến tính dễ gẫy của xương, túc là có nguy cơ gẫy xương.
 Loãng xương có 2 loại là loãng xương nguyên phát và thứ phát, trong đó loãng xương nguyên phát bao gồm 2 typ 1 (loãng xương ở phụ nữ đã mãn kinh) và týp 2 (loãng xương ở người già trên 60 tuổi). Loãng xương thứ phát do một số bệnh lý và thuốc gây nên. Phụ nữ sau mãn kinh, buồng trứng giảm sản xuất estrogen, Hormone estrogen tác động đến các tế bào tạo xương và tế bào hủy xương để ức chế sự hủy xương trong mọi giai đoạn của chu chuyển xương. Vì vậy, giảm mật độ xương hoặc loãng xương là một biến chứng thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh. Đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (Dual Energy X ray Absorptiometry – DEXA) là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán loãng xương, và nó là một yếu tố dự báo chính nguy cơ gãy xương.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Lan, Đào Xuân Thành – Trường Đại học Y Hà Nội vừa qua đã báo cáo đề tài nghiên cứu “Nhận xét đặc điểm mật độ xương và các yếu tố liên quan ở phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh”. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang không có đối chứng. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: nữ giới từ 45 tuổi trở lên, sinh sống tại địa bàn khu vực miền Bắc Việt Nam, đến khám tại khoa khám bệnh theo yêu cầu bệnh viện Bạch Mai. Tất cả đối tượng nghiên cứu đều mãn kinh tự nhiên và chưa điều trị loãng xương bao giờ, đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân nữ đã và đang điều trị loãng xương, mãn kinh nhân tạo, không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Các đối tượng nghiên cứu được khám, đo chiều cao, cân nặng và hỏi tiền sử bệnh tật, tiền sử gãy xương tự nhiên và tiền sử sử dụng estrogen. Tất cả các đối tượng đều được đo mật độ xương trung tâm tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi bằng phương pháp DEXA (sử dụng máy Hologic Explorer). Mỗi đối tượng sẽ được thăm khám, chẩn đoán xác định các bệnh theo tiêu chuẩn hiện đại, được phỏng vấn theo bộ câu hỏi thống nhất bao gồm các chỉ số và biến số để tìm hiểu về những yếu tố liên quan đến loãng xương.
Kết qủa nghiên cứu, theo báo cáo của nhóm tác giả nghiên cứu cho thấy có 290 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình 59,1 ±8,9 (cao nhất: 88 tuổi, thấp nhất: 45 tuổi); chiều cao trung bình: 151,3±0,5cm (cao nhất 170 cm, thấp nhất 136,5 cm); Cân nặng trung bình: 52,5 ±3,1 (tỷ lệ người gầy chiếm 4,1%, người thừa cân – béo phì chiếm 46,2%); Tuổi mãn kinh trung bình: 48,8±3,6 (cao nhất: 58 tuổi, thấp nhất: 40 tuổi); Đa số đối tượng nghiên cứu có tuổi mãn kinh từ sau 45 tuổi chiếm tỷ lệ 77,2%; Thời gian mãn kinh: thời gian mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là 10,2±9,6 năm, chủ yếu < 10 năm chiếm tỷ lệ 63,4% từ 10-19 năm chiếm 19% và > 20 năm chiếm 17,6%.
Tiền sử viêm khớp dạng thấp và tiền sử dùng Estrogen: có 27/290 đối tượng nghiên cứu có tiền sử viêm khớp dạng thấp chiếm tỷ lệ 9,3% và có 52/290 đối tượng nghiên cứu có tiền sử dùng Estrogen và các chế phẩm có chứa Estrogen chiếm tỷ lệ 20,3%. Tiền sử gãy xương sau năm 45 tuổi: tỷ lệ gãy xương tự nhiên là 7,6%. Trong đó có 6,2% có tiền sử gãy xương ở 1 vị trí và 1,4% có tiền sử gã xương ở 2 vị trí, không có trường hợp nào gãy từ 3 vị trí trở lên. 92,4% còn lại không có tiền sử gãy xương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ loãng xương 49,3%, 36,9% bị giảm mật độ xương và chỉ có 14,8% đối tượng nghiên cứu có mật độ xương bình thường. Đây là tỷ lệ bệnh khá cao so với nhiều nghiên cứu khác. Kết quả nghiên cứu mật độ xương tính theo chỉ số T-score ở CSTL trung bình là: 2,31±1,46 SD, thấp nhất là -4,9 SD, cao nhất là 0,81 SD. T-score CXĐ trung bình: -1,33±1,11 SD, thấp nhất là -3,2 SD, cao nhất là -0,48 SD. Giá trị T-score CSTL trung bình là T-score CXĐ trung bình giảm dần theo mức độ mất xương có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Mật độ xương tính theo T-score tại CSTL thấp hơn tại CXĐ với p<0,05.
Khi xét mối liên quan giữa MĐX và tuổi kết quả thu được T-score giảm dần theo độ tuổi. Tuổi càng cao thì mật độ xương càng giảm, sự liên quan có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Do vậy, tỷ lệ loãng xương cũng tăng theo độ tuổi: ở lứa tuổi 45-54, tỷ lệ loãng xương là 20,6%; 55-64 tuổi loãng xương tăng lên 53,5%, 65-74 tuổi tỷ lệ này là 72,1%, còn từ 75 tuổi trở lên thì 100% các đối tượng nghiên cứu bị giảm mật độ xương, trong đó loãng xương là 91,3%.
BMI vẫn được biết có mối liên quan với mật độ xương. Những người có tầm vóc nhỏ có khối lượng xương thấp hơn nên dễ có nguy cơ loãng xương. Kết quả, T-score ở CSTL và CXĐ có mối liên quan chặt chẽ với BMI, BMI càng thấp thì mật độ xương cũng càng thấp và ngược lại, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Theo WHO mãn kinh trước 45 tuổi được gọi là mãn kinh sớm. Trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là: 48,8±3,6 (40-58 tuổi), có 22,8% đối tượng nghiên cứu mãn kinh sớm. Thời gian mãn kinh trung bình của đối tượng nghiên cứu là 10,2±9,6 năm, mãn kinh <10 năm chiếm tỷ lệ 63,4%. Mật độ xương tại CSTL và CXĐ đều giảm dần theo thời gian mãn kinh: thời gian mãn kinh càng dài thì mật độ xương càng giảm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Tuy nhiên không thấy sự khác biệt về mật độ xương giữa 2 nhóm mãn kinh trước 45 tuổi và từ sau 45 tuổi.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Lan có kết luận nên đo mật độ xương ở những phụ nữ trên 45 tuổi đã mãn kinh để phát hiện sớm loãng xương và điều trị sớm tránh những biến chứng của loãng xương. Các yếu tố có liên quan đến mật độ xương là tuổi, BMI, thời gian mãn kinh, tiền sử VKDT, gãy xương và sử dụng Estrogen.     
Mai Trang
 
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 409

Số lượt truy cập: 9365712

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang