[Đăng ngày: 31/10/2015]
BS.Trịnh Văn Thông- Bệnh viện 103- cùng các cộng sự đã có báo cáo đề tài nghiên cứu “Điều trị phẫu thuật phối hợp hóa trị phác đồ EOI:phân tích kết quả điều trị 70 bệnh nhân Sarcom tạo xương”.
Đây là nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc, phân tích mô tả theo bệnh án thống nhất. 70 bệnh nhân Sarcom tạo xương tứ chi giai đoạn I, II được điều trị phối hợp phẫu thuật với hóa chất phác đồ EOI tại Bệnh viện K từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2014.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân Sarcom tạo xương gặp nhiều ở độ tuổi từ 11 đến 30 (84,3%); cao nhất là ở độ tuổi 11-20, chiếm 45 trường hợp. Nam giới chiếm tỷ lệ 58,6%; các bệnh nhân trong nghiên cứu đều được điều trị chủ yếu theo quy trình hóa chất- phẫu thuật- hóa chất, hoặc phẫu thuật- hóa chất; gồm 3 chu kỳ trước phẫu thuật và 3 chu kỳ sau phẫu thuật. Có 13 bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật trước, sau đó điều trị hóa chất bổ trợ gồm 6 chu kỳ.
Đối với phương pháp điều trị phẫu thuật, cắt bỏ u đơn thuần 17 trường hợp; cắt rộng u kèm tái tạo cấu trúc xương có 29 trường hợp, cắt cụt chi có 24 trường hợp. Những trường hợp thực hiện cắt cụt chi, theo tác giả nghiên cứu bao gồm những người bệnh điều trị hóa trị không đáp ứng, u kích thước lớn xâm lấn quá nhiều vào mô mềm và nhất là u đã bao bọc bó mạch- thần kinh chính của chi. Số còn lại được phẫu thuật bảo tồn chi nhằm mục đích bảo đảm tất cả các cấu trúc quan trọng để giữ lại chức năng tối đa của chi. 46 trường hợp được phẫu thuật bảo tồn chi bao gồm cắt bỏ u đơn thuần hoặc cắt rộng u kèm tái tạo khuyết hổng xương chiếm tỷ lệ 65,7%. Có 17 bệnh nhân được thực hiện cắt bỏ u đơn thuần, 29 bệnh nhân được tái tạo khuyết hổng chi. Phương pháp tái tạo khuyết hổng sau cắt rộng u được sử dụng nhiều nhất là trám lấp ổ khuyết hổng sau cắt rộng u bằng xi măng xương, chiếm hơn 80%. Phương pháp treo chi hoặc làm ngắn chi có 4 trường hợp, đây là các trường hợp tổn thương u ở đầu trên hoặc thân xương cánh tay.
Về kết quả điều trị, theo tác giả nghiên cứu có 17 bệnh nhân tái phát tại chỗ, 12/17 bệnh nhân tái phát sớm trong vòng 6 tháng sau điều trị. Có 15 bệnh nhân tái phát sau phẫu thuật bảo tồn chi. Những bệnh nhân tái phát có 12 trường hợp đã được đoạn chi. Có 12 bệnh nhân không có tái phát tại chỗ nhưng có di căn xa, di căn gặp chủ yếu là di căn phổi, di căn xương.
Theo tác giả nghiên cứu, tái phát, di căn và thời gian sống thêm của bệnh nhân luôn là những điều mà các nhà ung thư học quan tâm. Để hạn chế tỷ lệ tái phát, di căn và kéo dài thời gian sống thêm, các bệnh nhân cần được điều trị tại các bệnh viện tuyến chuyên sâu về bệnh học cơ xương khớp và ung thư, đồng thời cần tuân thủ đúng nguyên tắc điều trị từ khâu chẩn đoán, phân giai đoạn, phẫu thuật cắt u đảm bảo bờ phẫu thuật “sạch” về vi thể, và vai trò của hóa trị là không thể thiếu trong quá trình điều trị đối với loại bệnh này.
Đối với tỷ lệ sống thêm toàn bộ 1 năm, kết quả nghiên cứu cho thấy có 66 trường hợp (94,3%); 2 năm là 58 trường hợp (82,8%) và 3 năm là 52 trường hợp (74,3%). Tỷ lệ sống thêm không bệnh sau một năm là 60%; 2 năm là 52,8% và 3 năm là 51,4%.
BS.Trịnh Văn Thông đã có kết luận cho nghiên cứu là phương thức điều trị chủ yếu hiện nay bệnh nhân Sarcom tạo xương là hóa chất- phẫu thuật- hóa chất. Điều trị hóa chất trước giúp tăng khả năng điều trị bảo tồn chi cho bệnh nhân. Bảo tồn chi bằng phương pháp trám lấp ổ khuyết hổng xương bằng xi măng xương vẫn hữu hiệu trong điều kiện hiện nay.
Chúng ta biết rằng  Sarcom tạo xương là bệnh ung thư mô liên kết tạo ra chất dạng xương, có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo xương. Theo Tổ chức Y tế Thế giới nhóm bệnh sarcom tạo xương chiếm khoảng 35% trong các trường hợp ung thư xương nguyên phát. Bệnh Sarcom tạo xương tiến triển rất nhanh, tiên lượng xấu, nếu người bệnh không được chẩn đoán, điều trị sớm thì bệnh nhân sẽ tử vong do di căn phổi. Bệnh sarcom tạo xương thường gặp ở những người trẻ tuổi từ 10-25 tuổi, đặc biệt quanh tuổi 15-20; nam gặp nhiều hơn nữ. Xương nào cũng có thể bị; thường gặp nhất là cánh tay hoặc chân, đặc biệt quanh đầu gối. Triệu chứng ban đầu thường âm thầm, đau là triệu chứng thường gặp. Lúc đầu đau ở xương hoặc khớp, xảy ra về đêm. Cơn đau có thể liên tục hoặc lên từng cơn. Vận động tay chân để làm dịu cơn đau lại làm đau hơn. Chỗ nào bộ xương cũng có thể đau nhưng thường thấy đau vùng gối, đùi, cánh tay, xương sườn hoặc xương chậu. Tại bệnh viện, các bác sĩ chẩn đoán bệnh bằng xét nghiệm như chụp phim X-quang xương; X-quang phổi; chọc tủy xương; chụp MRI hoặc CT. Từ kết quả các xét nghiệm, các bác sĩ chuyên khoa sẽ xếp giai đoạn của bệnh để chọn lựa cách điều trị phù hợp.
Nguyên Khải
 
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 55

Số lượt truy cập: 9371009

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang