
Tại Hội nghị khoa học điều dưỡng Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa mở rộng năm 2015 được tổ chức vào tháng 10/2015, CN Lê Đình Anh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã có báo cáo đề tài “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến quy trình thay băng”.
Đề tài được thực hiện từ tháng 2-9/2015 tại các khoa lâm sàng ngoại, sản, chuyên khoa lẻ tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa. Có 88 điều dưỡng, nữ hộ sinh trực tiếp chăm sóc người bệnh tham gia nghiên cứu. Các điều tra viên giám sát, ghi nhận trực tiếp quy trình kỹ thuật thay băng cho người bệnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nữ chiếm 85,2%, hơn ½ có trình độ chuyên môn là trung cấp, cao đẳng chiếm tỉ lệ 34%; đại học chiếm 13,6%. Số năm công tác từ 1-5 năm chiếm gần ½; trên 5 năm chiếm 43%. Đối với chuẩn bị trước khi thay băng, quy trình chuẩn bị dụng cụ và chuẩn bị bệnh nhân, có 10,2% đối tượng nghiên cứu chuẩn bị xe thay băng còn thiếu dụng cụ và sắp xếp không đúng vị trí; 98% có đối chiếu tên bệnh nhân; 100% có đánh giá tình trạng tại chỗ; 88% có giải thích cho người bệnh về công việc sắp làm. Đối với thông tin về thực hành kỹ thuật trong thay băng, có 10,2% rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh không thực hiện và 10,2% thực hiện không đúng; có 95,5% đặt người bệnh ở tư thế thích hợp; 25% không thực hiện đặt tấm lót dưới vùng thay băng; 19,3% thực hiện không đúng; có ¼ thực hiện không đúng việc mang khẩu trang, sát khuẩn tay nhanh; có 87% thực hiện đúng việc tháo băng vết thương bằng tay trần (vết thương sạch); mang găng đối với vết thương bẩn hoặc sử dụng kềm không mấu. Có 98% có quan sát, đánh giá tình trạng vết thương; nhưng chỉ có 67% có sát khuẩn tay nhanh, mang găng sạch. Đối với vết thương bẩn, đối tượng nghiên cứu có thấm khô kiểm tra vết thương bằng gạc chiếm 73%; đối với sau khi thay băng xong chỉ có gần 64% đặt người bệnh về tư thế thoải mái; 81,8% có dặn dò người bệnh những việc cần thiết; có 88,6% thu dọn dụng cụ cho vào bồn có dung dịch Recept và tháo găng; có 77,3% rửa tay, sát khuẩn tay nhanh. Như vậy không có đối tượng nghiên cứu nào thực hiện đúng toàn bộ quy trình trong và sau thay băng. Có ít nhất một bước thực hiện sai; bước thực hiện sai nhiều nhất là thay pince mới khi sát khuẩn lại lần cuối (67%); không cám ơn người bệnh khi thực hiện xong chiếm tỉ lệ 35%.
Qua kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỉ lệ nữ thực hiện đúng quy trình cao hơn so với nam giới là 12%. Kết quả nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan tỉ lệ thực hành quy trình thay băng đúng, sai đối với trình độ của đối tượng và thâm niên công tác.
Tác giả nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị là tại các khoa lâm sàng cần phải triển khai tốt hơn việc kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ một tuần/một lần bằng phiếu đánh giá cụ thể đối với thực hành quy trình thay băng của người điều dưỡng, nữ hộ sinh. Đối với phòng điều dưỡng cần tiếp tục duy trì, tăng cường công tác đào tạo, giám sát các nhân viên điều dưỡng, nữ hộ sinh khi thực hiện quy trình thay băng. Bệnh viện cần có chế độ thưởng, phạt hợp lý và điều dưỡng trưởng cần có kế hoạch thay mới những dụng cụ đã cũ, bị hư hỏng.
Chúng ta biết rằng, thay băng là biện pháp giữ cho vết thương sạch sẽ, nhanh lành trong điều trị người bệnh có bệnh lý tổn thương bên ngoài cơ thể. Thay băng, rửa vết thương đúng quy trình có tác dụng phòng ngừa nhiễm khuẩn thứ phát giúp vết thương mau chóng hồi phục. Nếu thay băng không đúng quy trình kỹ thuật sẽ là một nguyên nhân dẫn đến nhiễm khuẩn vết thương, vết mổ, để lại nhiều hậu quả như tăng thời gian, chi phí điều trị, tăng nguy cơ cho người bệnh, tăng gánh nặng làm việc cho nhân viên y tế. Việc thực hiện tốt công việc thay băng vết thương hàng ngày của người điều dưỡng, nữ hộ sinh giúp phát hiện những bất thường như nhiễm khuẩn, hoại tử qua đó kịp thời xử lý và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ, nâng cao chất lượng điều trị của khoa phòng và góp phần nâng cao uy tín của bệnh viện./.
Minh Tâm