[Đăng ngày: 05/10/2015]
Ung thư phổi là bệnh ung thư thường gặp nhất, là tay sát thủ mạnh tay nhất trên toàn cầu. Ở Việt Nam, ung thư phổi chiếm vị trí hàng đầu cùng với ung thư gan, theo GS.TS Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 37 người mới mắc trên 100.000 nam giới, ở phụ nữ tỷ lệ này là 16/100.000 người.
Một nghiên cứu của các bác sĩ Phan Thu Phương – Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai và Trần Thị Thuần – Trường Đại học Y Hà Nội được thực hiện từ tháng 12/2013 đến tháng 9/2014 về “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tế bào học dịch rửa phế quản ở bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai”. Đánh giá ban đầu và chẩn đoán xác định bệnh nhân ung thư phổi, tế bào học có vai trò quan trọng. Hiện nay có nhiều phương pháp lấy mẫu tế bào gồm tế bào đờm, dịch rửa phế quản, chải phế quản…Tìm tế bào ung thư ở dịch rửa phế quản là một phương pháp đơn giản dễ thực hiện, giá thành lại không cao. Nghiên cứu của BS Phan Thu Phương thực hiện trên 82 bệnh nhân, nam giới chiếm 72%, tuổi trung bình là 60, nhóm tuổi 41-60 chiếm nhiều nhất với tỷ lệ 56%. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hút thuốc chiếm gần 65%; nhóm hút trên 20 bao/năm chiếm tỷ lệ cao nhất gần 53%; nhóm hút thuốc dưới 5 bao/năm chiếm tỷ lệ 13%.
Đối với triệu chứng toàn thân, hai triệu chứng thường gặp là gầy sút cân (45,7%); mệt mỏi (21,9%). Đối với triệu chứng hô hấp đau ngực, ho khan là thường gặp nhất, đau ngực  chiếm 63,4%, ho khan có tỷ lệ 35,4%. Dấu hiệu xâm lấn của khối u trên lâm sàng là khàn tiếng chiếm gần 10%, hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên 8,5% người bệnh nghiên cứu.
Đối với xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh, dạng tổn thương trên phim cắt lớp vi tính lồng ngực tổn thương dạng đám mờ chiếm gần 82%, dạng nốt chiếm 22%. Dấu hiệu lan tràn của khối u trên cắt lớp vi tính gặp hầu hết các dạng tổn thương xâm lấn của u; u vệ tinh có tỷ lệ 22%; tràn dịch màng phổi có tỷ lệ 11%, di căn hạch trung thất gặp nhiều nhất, chiếm đến tỷ lệ 46,3%.
Kết quả chụp MRI sọ não phát hiện có 8 bệnh nhân có tổn thương thứ phát ở não, siêu âm ổ bụng có 3 bệnh nhân tổn thương thứ phát ở gan; 7 bệnh nhân có tổn thương xương sườn và cột sống. Kết quả nội soi phế quản thường gặp nhất là tổn thương thâm nhiễm chít hẹp (32,9%); u sùi trong lòng phế quản (24,4%). Áp dụng chẩn đoán mô bệnh học bằng phương pháp sinh thiết xuyên thành ngực có tỷ lệ gần 66%; ung thư biểu mô tuyến là typ mô bệnh học gặp nhiều nhất (78%); ung thư biểu mô vảy chiếm 11,1%. Thực hiện xét nghiệm tế bào dịch rửa phế quản, tế bào ung thư gặp ở 8 bệnh nhân, trong đó 4 bệnh nhân là dạng tổn thương thâm nhiễm, cả 8 bệnh nhân có typ mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Đình Hướng – khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Ung bướu Hà Nội “giá trị chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán ung thư phổi thể nốt mờ đơn độc”. Theo tác giả, kết quả nghiên cứu trên 50 bệnh nhân, tuổi trung bình 55,8; cho thấy loại tổn thương ác tính hay gặp nhất là ung thư biểu mô vảy (43,5%); ung thư biểu mô tuyến là 23%. Đối với giá trị chẩn đoán ung thư phổi của dấu hiệu bờ tua gai qua chụp cắt lớp vi tính cho thấy giá trị chẩn đoán dương tính 97,2%; giá trị dự đoán âm tính là 74,4%. Tuy kết quả chẩn đoán cao, tuy nhiên việc xác định bản chất lành hay ác của nốt mờ vẫn cần được khẳng định bằng kết quả mô bệnh học, chẩn đoán vi sinh của nốt mờ qua sinh thiết hoặc phẫu thuật.
Đối với đậm độ của tổn thương, kết quả nghiên cứu cho thấy có 82,1% nốt mờ ác tính có đậm độ u không đồng nhất, phản ánh tính chất không đồng nhất về cấu trúc tổn thương do tăng sinh tế bào không đều và kèm theo hoại tử, điều này khác với tổn thương lành tính.
Tác giả nghiên cứu đã có kết luận chụp cắt lớp vi tính là phương pháp chẩn đoán hình ảnh cho phép phát hiện chính xác ung thư phổi đơn độc, độ chính xác chẩn đoán cao, hướng dẫn sinh thiết, tuy nhiên tác giả đề xuất cần phải phối hợp chặt chẽ với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác để có được kết quả tối ưu nhất.
Chúng ta biết rằng, nốt mờ đơn độc nhu mô phổi là những tổn thương khu trú mô phổi hình cầu, hình tròn hay hình bầu dục, xuất hiện duy nhất ở nhu mô phổi, có giới hạn đủ rõ để có thể đo đường kính trên hình ảnh X-quang lồng ngực chuẩn, không kèm theo xẹp phổi hoặc hạch to trung thất. Nguyên nhân có thể là các tổn thương ung thư hoặc các tổn thương lành tính. Đối với ung thư phế quản phổi là loại thường gặp, chiếm 30% các hình mờ tròn đơn độc ở phổi. Việc xác định chính xác được bản chất của tổn thương có vai trò quan trọng trong lựa chọn điều trị phù hợp nhất, hiệu quả nhất, đặc biệt đánh giá cơ hội còn có thể phẫu thuật cho người bệnh.     
Phương Thảo
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 71

Số lượt truy cập: 9371283

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang