[Đăng ngày: 24/04/2016]
Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế và xã hội, bệnh lý đái tháo đường đang có khuynh hướng gia tăng rõ rệt. Theo Hiệp hội Đái tháo đường Thế giới, năm 2000 thế giới có 171 triệu người mắc bệnh đái tháo đường; dự báo năm 2030 sẽ là 366 triệu người.
Xơ vữa động mạch vừa là bệnh lý phối hợp, vừa là nguyên nhân dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng của đái tháo đường. Trong đó tổn thương mạch máu chi dưới là một biến chứng âm thầm nhưng lại gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, gây tàn phế và có thể làm tăng tỷ lệ tử vong. Siêu âm Doppler vẫn là phương pháp được sử dụng đầu tiên để khảo sát tổn thương động mạch chi dưới, tuy nhiên đối tượng đái tháo đường với tình trạng vôi hóa, xơ cứng thành mạch sẽ gây hạn chế ít nhiều cho quá trình thăm khám. Cắt lớp vi tính đa dãy có dựng hình mạch máu khắc phục các nhược điểm của siêu âm và cho hình ảnh tổng thể hơn về tổn thương động mạch chi dưới.
Từ tháng 01/2014 đến tháng 9/2014, nhóm nghiên cứu Phạm Hồng Đức, Nguyễn Thị Cẩm Nhung - Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội và Bệnh viện Nội tiết tỉnh Nghệ An đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm xơ vữa động mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường trên cắt lớp vi tính đa dãy mạch máu” nghiên cứu được tiến hành tại khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Bạch Mai gồm 45 bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Tuổi bệnh nhân từ 49-91 tuổi, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 72, có 31 nam và 14 nữ. Tất cả bệnh nhân đều có triệu chứng của hẹp tắt động mạch chi dưới, được phân loại lâm sàng theo Leriche và Fontaine.
Tác giả nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật cắt lớp vi tính 64 dãy và 256 dãy Somatom của hãng Siemens. Trường chụp từ trên chạc ba chủ chậu đến bàn chân. Chụp trước tiêm đánh giá vôi hóa. Sau tiêm, dùng thuốc cản quang Xenetic (300mg/ml) bơm máy đường tĩnh mạch, tổng liều 100ml, tốc độ 3ml/s. Sử dụng các kỹ thuật tái tạo hình ảnh mạch máu theo không gian 3 chiều (MPR, MIP, VR, CPR).
Động mạch chi dưới mỗi bên được chia thành 3 tầng gồm có 10 đoạn: tầng chậu (2 đoạn): động mạch chậu chung, động mạch chậu ngoài, tầng đùi (4 đoạn): động mạch đùi chung, động mạch đùi nông, động mạch đùi sâu, động mạch khoeo, tầng dưới gối (4 đoạn): thân chày mác, động mạch chày trước, động mạch chày sau, động mạch mác. Trên 45 bệnh nhân, có hai bệnh nhân cắt cụt một bên chi từ đoạn động mạch khoeo, như vậy tổng số đoạn mạch nghiên cứu là 890.
Theo báo cáo của bác sỹ Phạm Hồng Đức, hầu hết các bệnh nhân đều có biểu hiện của bệnh thiếu máu chi trầm trọng, tức là ở giai đoạn III và IV, chiếm đến 82,2% (37/45). 30 bệnh nhân có biểu hiện của hoại tử ngón chân. Trong các bệnh lý phối hợp có đái tháo đường, tăng huyết áp là yếu tố chiếm tỷ lệ cao nhất 82,2% (37/45 bệnh nhân). Tỷ lệ bệnh nhân có bệnh lý mạch vành và mạch não phối hợp với bệnh động mạch chi dưới lần lượt là 17,8% (8/45) và 22,2% (10/45).
Đối với đặc điểm tổn thương động mạch chi dưới trên MSCT, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có tổn thương trên MSCT ở mức độ hẹp nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (35,6%). Tỷ lệ bệnh nhân tổn thương ở mức độ có ý nghĩa huyết động (hẹp > 70%) chiếm 38,0%, trong đó tắc là 17,3% tổng số bệnh nhân. Có 30,1% bệnh nhân có biểu hiện tắc mạch ở tầng dưới gối, tỷ lệ này ở tầng chậu là 7,2% và tầng đùi khoeo là 9,8%. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, gần 2/3 số đoạn mạch có vôi hóa thành mạch (60,2%), vôi hóa mức độ nặng (vôi hóa chiếm hơn 50% chu vi lòng mạch) là 24,4%. Vôi hóa gặp nhiều nhất là ở tầng chậu (85%), tiếp theo là tầng đùi khoeo (65,4%), tầng dưới gối chiếm 42,3%.
Tổn thương vôi hóa thành mạch chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường có tỷ lệ cao, chủ yếu tổn thương lan tỏa cả 3 tầng (58,88%) chỉ có tổn thương vôi hóa cả 3 tầng chiếm 65,9%.
Trong số 338 đoạn mạch có hẹp trên 50% thì có đến 249 đoạn là tổn thương hơn 1vị trí hay cả đoạn mạch, chiếm lần lượt là 73,7% và 71,9%. Trong đó tầng dưới gối là hay gặp tổn thương nhiều vị trí nhất (đều là 50,6%).
Không có tuần hoàn bàng hệ và tuần hoàn bàng hệ ít, nghèo nàn, tác giả nghiên cứu nhận thấy: ở các đoạn mạch có tắc hay hẹp ≥ 70% thì sự xuất hiện tuần hoàn bàng hệ chủ yếu ở tầng chậu và tầng đùi khoeo với tỷ lệ khá cao (75,0% và 70,6%). Tuần hoàn bàng hệ ở tầng dưới gối xuất hiện nghèo nàn hơn (48/128 trường hợp hẹp tắc nặng).
Theo phân tích của Bs Phạm Hồng Đức, càng ra phần ngoại vi tỷ lệ các đoạn mạch có tổn thương ở mức độ nặng càng tăng, vì vậy bệnh nhân đái tháo đường trong nghiên cứu thường có tổn thương ở các đoạn mạch tầng dưới gối.
Tính chất tổn thương động mạch chi dưới ở đái tháo đường có tính chất lan tỏa nhiều nơi và nhiều vị trí có chiều dài tổn thương hết toàn bộ đoạn mạch. Đây là những khó khăn trong việc điều trị tái tưới máu bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường bằng kỹ thuật can thiệp nội mạch.
Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý, ở tầng chậu và tầng đùi khoeo động mạch có nhiều nhánh bên, vòi nối phong phú và đường kính các nhánh bên tương đối lớn. Ngược lại tầng dưới gối có khẩu kính bé, các động mạch chính nối với nhau qua các vòng nối mắt cá trong và ngoài rất mảnh. Đặc biệt trên đối tượng đái tháo đường thường tổn thương các mạch máu nhỏ nên tuần hoàn bàng hệ càng về phía ngoại vi càng nghèo nàn.
BS. Phạm Hồng Đức đã có kết luận, qua nghiên cứu xơ vữa động mạch chi dưới trên MSCT ở 45 bệnh nhân đái tháo đường với tổng số 890 đoạn mạch, nhận thấy: Tổn thương hẹp tắc động mạch có tính chất lan tỏa nhiều tầng, nhiều vị trí và thường gặp ở các đoạn mạch tầng dưới gối (tắc chiếm 30,1%). Vôi hóa thành mạch đái tháo đường (60,2%). Xuất hiện bàng hệ thường gặp trong hẹp tắc nặng >70% nhưng tầng dưới gối là tuần hoàn bàng hệ rất nghèo nàn.
Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 112

Số lượt truy cập: 9369418

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang