
Theo Bs Trần Ngọc Ân - Chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam trên lâm sàng khớp gối là khớp tràn dịch gặp nhiều nhất.
Việc chẩn đoán thương tổn tại khớp qua nội soi là cần thiết trước khi điều trị, tuy nhiên chẩn đoán xác định nguyên nhân gây tràn dịch khớp gối còn nhiều khó khăn. Ngày nay cùng với các tiến bộ khoa học trong y học, phương pháp nội soi khớp gối giúp thầy thuốc quan sát trực tiếp các tổn thương, sinh thiết lấy đúng và đủ tổn thương để làm xét nghiệm mô bệnh học. Mặc dù nhiều bệnh khớp có thể chẩn đoán dựa trên đặc điểm lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng như đánh giá phân tích dịch khớp, XQ…tuy nhiên vẫn còn một số bệnh khó chẩn đoán và cần phải được xác định được bằng chẩn đoán giải phẫu bệnh lý như các bệnh viêm hạt do lao và các tổn thương u và giả u…Nội soi sinh thiết màng hoạt dịch giúp chẩn đoán chính xác những bệnh này.
Từ tháng 10/2011 đến tháng 7/2012, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Quốc Việt - Bệnh viện E, Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát sự phù hợp giữa lâm sàng – nội soi và mô bệnh học trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch khớp gối”.
Nghiên cứu sử dụng máy nội soi OEV 142 Olympus (Nhật Bản); các mẫu sinh thiết được cố định trong dung dịch Formol trung tính 10%, chuyển đúc trong Paraffin, sau đó cắt lát mỏng tiêu bản 3-5 micromet, nhuộm Hematoxylin – Eosin; Tiêu bản mô bệnh học được đọc trên kính hiển vi Nikon ECLIPSE – E600. Đánh giá tổn thương theo Pathology outline; Robbin và Cotran.
Theo báo cáo của Bs Lê Quốc Việt, có 156 bệnh nhân tràn dịch khớp gối tham gia nghiên cứu, tuổi từ 16-86; tuổi trung bình là 54,14 tuổi. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu nữ/nam là 1,4/1 (nữ giới chiếm 65,6%).
Đối với phân loại các nhóm bệnh gây tràn dịch khớp gối, nhiều nhất là thoái hóa khớp gối chiếm tỷ lệ 27,6%; tiếp theo là viêm khớp nhiễm khuẩn sinh mủ chiếm 25%; viêm khớp (Pheumatoid arthrihs) chiếm 17,9%.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, tràn dịch khớp gối chẩn đoán tràn dịch không khó nhưng chẩn đoán đúng nguyên nhân tràn dịch đôi khi rất khó. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chẩn đoán lâm sàng đúng phù hợp với kết quả giải phẫu bệnh là 107 ca (68,6%) chẩn đoán sai không phù hợp là 49 ca (31,4%).
Nhóm chẩn đoán phù hợp, đúng giữa nội soi sinh thiết khớp gối và giải phẫu bệnh cao nhất là nhóm thoái hóa khớp, còn nhóm bệnh u sụn MHD có tỷ lệ chẩn đoán phù hợp là thấp nhất chỉ khoảng 2%.
Đối với các nhóm bệnh thoái hóa khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn gút do triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng đặc trưng của các bệnh này tương đối rõ và điển hình nên chỉ cần thăm khám kỹ, xét nghiệm đầy đủ, bác sỹ lâm sàng có thể chẩn đoán đúng bệnh. Đối với viêm khớp dạng thấp, kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn người bệnh được xét nghiệm yếu tố dạng thấp (RF) dương tính 16/27 bệnh nhân, đối với bệnh nhân gút triệu chứng viêm khớp cấp, hạt Tophy, axit uric máu tăng gặp 10/44 trường hợp bệnh nhân.
Lý giải cho 2 nhóm bệnh lao và u sụn MHD có tỷ lệ chẩn đoán phù hợp thấp chỉ khoảng 2% là do bệnh u sụn MHD là bệnh ít được bác sỹ lâm sàng quan tâm. Bệnh u sụn MHD (synovial chondromatosis) là bệnh tổn thương giả u hiếm gặp ở MHD khớp gối. Bệnh là tình trạng dị sản lành tính của MHD, các tế bào liên kết của MHD dị sản thành các tế bào sụn cho nên nó còn có thể được gọi là dị sản sụn của MHD. Chính vì vậy nên bệnh chỉ được chẩn đoán trên hình ảnh tổn thương GPB nên lâm sàng thường bỏ qua chẩn đoán này. Đối với bệnh lao theo tác giả nghiên cứu chẩn đoán bệnh này phải dựa trên tiêu chuẩn GPB có tổn thương viêm hạt đặc hiệu với nang lao điển hình hoặc không điển hình hoặc xét nghiệm xác định trực khuẩn lao: PCR dương tính hoặc phân lập được trực khuẩn này nên chẩn đoán bệnh này có tỷ lệ thấp là phù hợp.
Bác sỹ Việt nhấn mạnh việc chẩn đoán nguyên nhân gây tràn dịch khớp là điều khó khăn với bác sỹ khi không đủ điều kiện chẩn đoán và nội soi khớp là một giải pháp giải quyết cho việc chẩn đoán nguyên nhân được chính xác.
Nội soi khớp gối đã giúp cho bác sỹ thấy rõ tổn thương, từ đó giúp chẩn đoán đúng được nguyên nhân gây ra tràn dịch.
Đối với các nhóm bệnh như viêm màng hoạt dịch, gút, viêm mủ, thoái hóa khớp, u sụn MHD có tỷ lệ chẩn đoán nội soi đúng rất cao từ 90-100%.
Các bệnh này có hình ảnh nội soi điển hình với tổn thương về typ, về màu sắc, hình nhú, xâm nhiễm tế bào viêm lắng đọng sắc tố cùng với các đại thực bào ăn sắc tố…
Đối với bệnh gút, tổn thương gút mạn tính thấy: tinh thể urat lắng đọng bề mặt của khớp và ở trong MHD, MHD tăng sản, xơ hóa và dày do các tế bào viêm, có các hạt Tophi là dấu hiệu đặc trưng của bệnh xác nhận tiêu chuẩn của gút. Hình ảnh vi thể là các đám lớn tập hợp, kết tụ tinh thể urat đã được hòa tan (disolve) được bao bởi các tế bào viêm là các đại thực bào, tế bào lympho và các tế bào khổng lồ dị vật (foreign body giant cells”, trong các tế bào này có thể thấy hoàn toàn hay một phần tinh thể urat. Ngoài ra các tinh thể urat có thể thấy trên bề mặt sụn khớp, trong dây chằng quanh khớp, gân và tổ chức phần mềm, mỏm khủy, túi hoạt dịch của xương bánh chè.
Đối với bệnh u sụn MHD có tỷ lệ chẩn đoán 75% cao gấp 2 lần so với lâm sàng 37,5%. Bệnh được chia làm hai loại bệnh nguyên phát và thứ phát với các đặc điểm tổn thương chính: về hình ảnh đại thể MHD dầy, trên bề mặt có một hay nhiều cục nhỏ, hình tròn hoặc oval, bề mặt khớp bình thường tổn thương có thể thành ổ hoặc lan tỏa, các cục thường màu trắng xám, sụn trong mờ, có kích thước từ 1mm-3cm. Nếu bệnh u sụn MHD nguyên phát thường bề mặt khớp bình thường. Hình ảnh vi thể có tổ chức sụn trong MHD, tế bào sụn có hình dáng không điển hình tập trung thành đám nhỏ, nhân tăng sắc, nhân to hơn bình thường, có tế bào hai nhân. Còn bệnh thứ phát hay gặp hơn loại nguyên phát, thường gặp ở các bệnh nhân có tiền sử các bệnh về khớp từ trước như thái hóa khớp…cho nên thường có tổn thương sụn khớp và hình ảnh vi thể các tế bào sụn thấy bình thường, tế bào nhỏ, sắp xếp đều nhau, không thấy tế bào hai nhân, cho nên hình ảnh nội soi chỉ thấy được MHD dầy, tăng sản, các thể tự do, tổn thương hay không tổn thương sụn khớp - hình ảnh này còn có thể thấy trong thái hóa khớp cho nên dễ nhầm.
Lâm Quyên