
Ung thư hạ họng và ung thư thanh quản là một tổn thương ác tính xuất phát từ lớp biểu mô của niêm mạc bao phủ hạ họng, thanh quản.
Ở Việt Nam, ung thư hạ họng, ung thư thanh quản đứng hàng thứ 2 trong các ung thư đầu mặt cổ, sau ung thư vòm họng. Điều trị ung thư thanh quản, hạ họng hiện nay chủ yếu là phẫu thuật và tia xạ, trong đó phẫu thuật vẫn giữ vai trò quan trọng. Tái phát tại chỗ hoặc di căn là hai vấn đề chính, liên quan đến sống còn của người bệnh, cần được theo dõi định kỳ sau phẫu thuật.
Sau phẫu thuật, các tổn thương đều có thể bị biến dạng, thay đổi cấu trúc nên hình ảnh cắt lớp vi tính, MRI có nhiều hạn chế trong việc xác định các tổ chức còn sót, không phân biệt được tổ chức xơ hóa, ổ viêm…với tái phát hoặc di căn. Kỹ thuật PET/CT là kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh còn khá mới ở Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Quang Trung, Lê Minh Kỳ- Bộ môn Tai Mũi Họng Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương tiến hành nghiên cứu đề tài “Vai trò của PET/CT trong chẩn đoán tái phát ung thư thanh quản, hạ họng”. Nghiên cứu nhằm đối chiếu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng với PET/CT để chẩn đoán tái phát, di căn hạch và di căn xa của ung thư.
Đối tượng nghiên cứu gồm 33 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư thanh quản, ung thư hạ họng đã phẫu thuật tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, được theo dõi diễn biến sau mổ và được chỉ định chụp PET/CT tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2011 đến tháng 9/2014.
Theo phân tích của BS. Nguyễn Quang Trung, việc phát hiện sớm tái phát trong ung thư đầu cổ có vai trò quan trọng, thời gian sống không bệnh sẽ kéo dài, nếu được chẩn đoán tái phát sớm thời gian sống không bệnh 2 năm là 67-73% ở khối u tái phát giai đoạn I và II so với 22-33% giai đoạn III và IV.
Chẩn đoán tái phát thường gặp khó khăn với phim cắt lớp vi tính và MRI do tổn thương viêm, mất đối xứng, nhất là các trường hợp sau phẫu thuật, tia xạ. Sinh thiết cũng gặp khó khăn do tổn thương viêm, chảy máu, tỷ lệ âm tính giả cao. PET/CT nhạy cảm và đặc hiệu hơn so với chụp cắt lớp vi tính và MRI trong việc phát hiện bệnh tái phát.
Qua nghiên cứu, người bệnh đến khám chủ yếu vì lý do khó thở, thường gặp ở bệnh nhân sau cắt thanh quản, hạ họng bán phần, chiếm tỷ lệ 40,6%; hạch cổ chiếm 21,9%. Nghiên cứu cho thấy hầu hết bệnh nhân gửi đi chụp PET khi có dấu hiệu nghi ngờ tái phát tại chỗ hoặc di căn hạch trên lâm sàng, rất ít trường hợp gửi chụp PET/CT để kiểm tra, đánh giá sau phẫu thuật.
Về thời gian đến chụp PET/CT của người bệnh, tỷ lệ chụp PET sau phẫu thuật trong khoảng thời gian từ 2-12 tháng chiếm 60,6%, dưới 2 tháng chiếm tỷ lệ 27,3%. Sau phẫu thuật do quá trình lành vết thương và phát triển mô hạt, hiện tượng viêm nhiễm là nguyên nhân tăng hấp thụ FDG. Vì vậy, những trường hợp chụp PET sớm dưới 1 tháng sau phẫu thuật thường có hiện tượng dương tính giả (tăng hấp thu FDG). Trong nghiên cứu của nhóm tác giả nghiên cứu có 04 bệnh nhân chụp PET sau phẫu thuật dưới 1 tháng đều cho kết quả tăng hấp thu FDG, nhưng khám nội soi tai mũi họng và kết quả giải phẫu bệnh âm tính. Nguyên nhân do tổ chức viêm tăng hấp thu FDG.
BS. Trung nhấn mạnh, để có thái độ điều trị sớm, nhất là sau điều trị bảo tồn bằng hóa chất- tia xạ, nhiều tác giả đã thống nhất nên chụp PET/CT sau 10-12 tuần, nếu giá trị PET âm tính thì có thể theo dõi bệnh nhân an toàn, tuy nhiên nếu dương tính thì cần phải được xác định thêm trước khi đưa ra quyết định điều trị bổ sung.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 20/33 bệnh nhân (60,6%) có tái phát tại chỗ; trong đó 60% bệnh nhân tái phát tại vùng thanh quản, phần mềm vùng cổ trước ngang tầm sụn giáp và cạnh lỗ mở khí quản 35%, vùng hạ họng 5%. Tỷ lệ tái phát trong nghiên cứu này cao do những bệnh nhân được gửi đi chụp PET/CT là những bệnh nhân có nghi ngờ tái phát hoặc di căn dựa trên thăm khám lâm sàng. Gặp tái phát ở vùng thanh quản cao hơn là do số bệnh nhân chụp PET/CT ở nhóm bệnh ung thư thanh quản cao 29/33 bệnh nhân (87,8%).
BS.Trung cho biết khối tái phát nhỏ nhất tăng hấp thu FDG phát hiện được trên PET/CT là 1cm tương ứng với SUV nhỏ nhất 3,71. Khối tái phát lớn nhất có kích thước 3,7cm tương ứng với SUV là 12,88. PET/CT đã phát hiện được các tổn thương u có kích thước nhỏ 1cm, trong khi đó cắt lớp vi tính thường bỏ sót những tổn thương có kích thước nhỏ. Hạn chế trong nghiên cứu theo tác giả nghiên cứu là chỉ định chụp cắt lớp vi tính nhưng không tiêm thuốc cản quang. Qua nghiên cứu, tác giả đưa ra nhận xét khối tái phát càng lớn giá trị SUV càng cao, cụ thể khối tái phát < 2cm có SUV trung bình là 5,8; thấp hơn nhóm 2-3cm có SUV trung bình 7,55; thấp hơn khối > 3cm có max SUV 12,88. Điều này được giải thích khi kích thước của khối u càng lớn, mức độ tập trung của các tế bào ung thư càng lớn, do vậy sự hấp thu 18 FDG càng cao.
Khi đối chiếu kết quả chụp PET/CT với lâm sàng và giải phẫu bệnh, đa số phù hợp với lâm sàng và giải phẫu bệnh chiếm tỷ lệ 95%. Có 01 trường hợp kích thước khối tái phát tại vị trí thanh quản là 1,1 cm có giá trị max SUV là 3,89 nhưng kết quả giải phẫu bệnh âm tính do tổn thương viêm cũng tăng hấp thu FDG. Khi bệnh nhân hoạt động hoặc nói chuyện nhiều, ăn hoặc nhai kẹo thì các cơ vùng thanh quản tăng hấp thu FDG. Vì vậy, trước khi chụp PET/CT cần giải thích cho bệnh nhân hiểu, khuyên bệnh nhân nằm bất động và thư giãn trong suốt thời gian hấp thụ.
Nhóm nghiên cứu cho rằng để chẩn đoán tái phát ung thư hạ họng, thanh quản không nên chỉ dựa vào giá trị tăng hấp thi FDG, mà phải dựa vào nhiều kỹ thuật khác nhau như soi hạ họng- thanh quản trực tiếp, giải phẫu bệnh là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán tái phát. Đối với các bệnh nhân ung thư thanh quản, hạ họng được điều trị bảo tồn cơ quan bằng hóa- xạ trị, nghi ngờ tái phát cần được phẫu thuật vớt vát, PET/CT là phương pháp chính xác nhất để đưa ra quyết định.
Kết quả cũng cho thấy có 20 bệnh nhân tái phát sau phẫu thuật, 75% tái phát ngay một năm đầu sau phẫu thuật, 25% tái phát sau một năm.
Đối với kết quả đối chiếu PET/CT với lâm sàng và cận lâm sàng để phát hiện di căn hạch, di căn xa; trong nghiên cứu, số bệnh nhân có di căn hạch cổ 73%, có 02 trường hợp di căn hạch rốn phổi và 02 trường hợp di căn hạch trung thất.
Hữu Cao