
Tại Hội nghị khoa học bệnh truyền nhiễm và HIV/AIDS toàn quốc tổ chức tháng 9/2015 vừa qua, tác giả Trịnh Thị Ngọc – khoa truyền nhiễm Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội đã có báo cáo khái lược về bệnh viêm gan vi rút.
Theo đó, 50 năm qua từ khi Blumberg phát hiện ra vi rút viêm gan B, lĩnh vực nghiên cứu viêm gan vi rút đã đạt được nhiều tiến bộ, tìm ra được các đường lây truyền của mỗi loại vi rút viêm gan A, B, C, D, E để hạn chế lây lan bệnh. Trong các loại vi rút gây viêm gan đáng ngại nhất là vi rút viêm gan B và C. Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 2012, tỷ lệ mang HBsAg mạn tính trên thế giới trước kia từ 350-400 triệu người đến nay nhờ có chương trình tiêm vắc xin viêm gan B giảm còn khoảng 240 triệu người. Hiện nay các nhà khoa học đang nghiên cứu tìm ra các thuốc tác động lên cccDNA của vi rút để điều trị viêm gan B hiệu quả hơn.
Còn nghiên cứu “Phân tích đặc tính phân tử của vi rút viêm gan B ở Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Tôn Thất cùng cộng sự Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh cho thấy bệnh viêm gan B mạn tính ở Việt Nam chiếm khoảng 8-18% dân số và khoảng 40% bệnh nhân cần được điều trị. Các phương pháp điều trị phụ thuộc vào lứa tuổi mắc bệnh, yếu tố di truyền, đặc điểm di truyền của vi rút như kiểu gen và kiểu gen phụ. Ở Việt Nam, 2 kiểu gen chính phổ biến là kiểu gen B và kiểu gen C, trong đó kiểu gen B chiếm tỷ lệ cao hơn. Nghiên cứu thực hiện giải mã toàn bộ bộ gen của 42 bệnh nhân viêm gan B mạn tính chưa từng điều trị từ tháng 6/2012 đến tháng 7/2014. Kết quả cho thấy có 32 chủng vi rút viêm gan B thuộc kiểu gen B chiếm tỷ lệ 74,4% và 10 chủng thuộc kiểu gen C chiếm tỷ lệ 25,6%. Trong số 32 kiểu gen B, có 27 chủng thuộc kiểu gen phụ B4 và 5 chủng thuộc kiểu gen phụ B2. Tác giả nghiên cứu đã kết luận xác nhận sự phổ biến của 2 kiểu gen B và C của vi rút viêm gan B ở Việt Nam.
Còn kết quả nghiên cứu “Mối liên quan giữa tải lượng HBV-AND với đột biến PC/BCP của vi rút viêm gan B trên bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn” của tác giả Nguyễn Văn Dũng cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, trên 125 bệnh nhân từ tháng 8/2010 đến tháng 2/2014 cho thấy tỷ lệ đột biến PC G1896A là 29,8%; PC G1899A là 15,5%; tỷ lệ đột biến kép là 42,9% và tỷ lệ kết hợp 4 đột biến là 4,2%.
Tác giả Nghiêm Mỹ Ngọc cùng cộng sự Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu “Kiểm soát đột biến kháng thuốc trên bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn không đáp ứng điều trị với Tenofovir tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới” năm 2014, kết quả nghiên cứu cho thấy kiểu gen B chiếm đa số trong cả 2 nhóm có điều trị với thuốc Tenofovir disoproxil fumate (TDF) và nhóm đối chứng. Tác giả nghiên cứu có kết luận chưa phát hiện đột biến kháng TDF ở các vị trí đã được công nhận trên các chủng viêm gan vi rút B được nghiên cứu, tuy nhiên phát hiện được nhiều vị trí đột biến trên gen polymerase của vi rút viêm gan B ở những bệnh nhân nhiễm viêm gan B mạn không đáp ứng điều trị với TDF.
Đối với viêm gan vi rút C, hiện tỷ lệ nhiễm trên thế giới khoảng 170 triệu người và tỷ lệ này chưa có khả năng giảm vì bệnh chưa có vắc xin phòng bệnh. Theo tác giả Hoàng Tiến Tuyên – Học viện Quân Y, cập nhật thông tin ở Việt Nam có khoảng 2-5% dân số nhiễm vi rút viêm gan C. Từ năm 2013 đến nay, thế giới đã có bước tiến lớn trong điều trị viêm gan C mạn tính với sự ra đời của thuốc kháng vi rút trực tiếp (DAAS-Direct-acting antivirals), rút ngắn thời gian điều trị xuống 12 tuần và không phải chịu những tác dụng phụ không mong muốn.
Nghiên cứu của tác giả Ngô Anh Thế cùng cộng sự Bệnh viện Hữu Nghị Việt – Tiệp Hải Phòng cho thấy kết quả điều trị bệnh nhân viêm gan C mạn tính bằng phác đồ PEG-Interferon A-2B kết hợp Ribavirin; gần 68% số bệnh nhân có đáp ứng điều trị nhanh, đối với các tác dụng phụ chủ yếu là hội chứng giả cúm (67,7%); gầy sút cân (54,8%), phản ứng tại điểm tiêm (45,2%) và thay đổi huyết học.
Còn nghiên cứu “Dịch tễ học, tác nhân của viêm gan vi rút và đặc tính phân tử của vi rút viêm gan C” của tác giả Đinh Nguyễn Huy Mẫn – Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh cho thấy kiểu gen vi rút viêm gan C đóng vai trò quan trọng trong biểu hiện lâm sàng, tiến triển bệnh, kết cục bệnh. Qua nghiên cứu 170 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B cao nhất (50,3%) trong số các bệnh viêm gan vi rút ở những bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP Hồ Chí Minh với dấu hiện viêm gan cấp tính. Tỷ lệ nhiễm viêm gan vi rút D khá cao trên bệnh nhân viêm gan vi rút B, đây được coi là nguyên nhân gây trầm trọng hơn tình trạng viêm gan so với nhiễm viêm gan B đơn thuần. Đối với kiểu gen viêm gan vi rút C có thay đổi là genotype 6 chủ yếu thay cho các nghiên cứu trước đây là genotype 1, đây là lưu ý quan trọng trong công tác điều trị bệnh viêm gan vi rút C. Tác giả nghiên cứu cũng khuyến nghị các bác sĩ nên quan tâm hơn đối với việc xét nghiệm viêm gan vi rút D ở những bệnh nhân có HBsAg dương tính./.
Trần Mai