[Đăng ngày: 12/09/2015]
Tại Hội nghị Khoa học bệnh Truyền nhiễm và HIV/AIDS toàn quốc năm 2015 được tổ chức vào tháng 9/2015; nghiên cứu viên Trần Xuân Khánh cùng cộng sự Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Hưng Yên đã có báo cáo đề tài nghiên cứu “Thực trạng đồng nhiễm HBV, HCV trên bệnh nhân HIV/AIDS điều trị tại các phòng khám ngoại trú”. Nghiên cứu thực hiện trên 263 bệnh nhân nhiễm HIV tham gia điều trị ARV tại 02 phòng khám ngoại trú trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2014.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ đồng nhiễm viêm gan vi rút B và HIV là 6,8%; đồng nhiễm viêm gan vi rút C và HIV là 26,8%. Tỷ lệ người nhiễm HIV đồng nhiễm cả viêm gan B và viêm gan C là 5,3%.
Đối với kiến thức của đối tượng nghiên cứu biết được đường lây truyền, cách phòng tránh bệnh viêm gan vi rút B, C thì kiến thức đúng đầy đủ chỉ đạt gần 5%; gần 70% không hiểu biết đầy đủ đường lây truyền của viêm gan vi rút B và viêm gan vi rút C. Có 78,7% đối tượng nghiên cứu cho rằng để phòng chống bệnh viêm gan vi rút B thì phải tiêm phòng 24,7% quan hệ tình dục an toàn và 13,4% không dùng chung bơm kim tiêm để phòng bệnh. Tỷ lệ cần phải đi khám sức khỏe định kỳ để kiểm soát bệnh chỉ có 0,8%.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thanh Tịnh cùng cộng sự tại Tung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Quảng Trị “Đánh giá tình trạng nhiễm HIV và viêm gan vi rút C trong nhóm nam nghiện chích ma túy”; nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014, trong nhóm nam nghiện chích ma túy TP Đông Hà, huyện Hướng Hóa, huyện Vĩnh Linh và thị xã Quảng Trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam tiêm chích ma túy (TCMT) dương tính với HIV 0,4% và đây cũng là tỷ lệ đồng nhiễm HIV- viêm gan vi rút C. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu dương tính với viêm gan vi rút C bằng test nhanh là 20%. Đối với khảo sát kiến thức phòng chống bệnh viêm gan vi rút C cho thấy nhóm đã có HCV dương tính tốt hơn nhóm có HCV âm tính. Nhóm có xét nghiệm dương tính với viêm gan vi rút C có hành vi không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm cao hơn nhóm có sử dụng bao cao su thường xuyên đến 4 lần. Nhóm có viêm gan vi rút C dương tính thời gian sử dụng ma túy trên 2 năm chiếm tỷ lệ gần 30%.
Tại hội nghị, nghiên cứu của Bùi Đức Dương cùng cộng sự Cục Phòng chống HIV/AIDS-Bộ Y tế “Điều tra thực trạng chăm sóc, điều trị đồng nhiễm viêm gan vi rút B và C ở bệnh nhân HIV có tiêm chích ma túy” cũng được nhiều đại biểu quan tâm.
Nghiên cứu được thực hiện tại 10 phòng khám ngoại trú HIV trên địa bàn TP Hà Nội, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh. Có 360 bệnh nhân nhiễm HIV, có tiền sử tiêm chích ma túy, được bác sĩ trực tiếp điều trị tại phòng khám ngoại trú và cán bộ quản lý phòng khám ngoại trú. Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 94% bệnh nhân biết mình nhiễm viêm gan vi rút C, nhưng chỉ có 4% biết bản thân nhiễm viêm gan vi rút B. Hầu hết đối tượng tham gia nghiên cứu kể ra được các triệu chứng cơ năng, đường lây truyền và hậu quả của nhiễm bệnh viêm gan vi rút B, C. Tuy nhiên, có đến 48% bệnh nhân không biết bệnh viêm gan vi rút B, C có thể được điều trị khỏi. Đối với việc chi trả chi phí điều trị, chỉ có 88% bệnh nhân có khả năng chi trả dưới mức 5% chi phí của liệu trình điều trị viêm gan vi rút C. Kết quả thu thập từ bệnh án cho thấy có 62,2% bệnh nhân có anti-HCV dương tính và 10,8% bệnh nhân có HBsAg dương tính. Hầu hết các phòng khám ngoại trú không thực hiện được các xét nghiệm sinh học phân tử như định lượng HBV-DNA; HCV-RNA và định týp vi rút viêm gan C.
Một nghiên cứu khác của TS.Nguyễn Anh Tuấn cùng cộng sự Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương về “Hiệu quả can thiệp cộng đồng của dự án phòng chống HIV/AIDS khu vực Châu Á tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013” cũng rất được đại biểu quan tâm.
Nghiên cứu thực hiện điều tra cắt ngang trên nhóm nghiện chích ma túy trên 601 người từ 18 tuổi trở lên, có tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện chọn mẫu cụm tại 3 tỉnh Bắc Kạn, Hòa Bình và Tuyên Quang từ tháng 1-2/2014. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật phân tích số liệu “ghép thô” (coarsened exact matching- CEM) được áp dụng cho mẫu điều tra cắt ngang nhằm tạo ra hai nhóm “được can thiệp” và “không được can thiệp” đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV vẫn còn cao ở cả 3 tỉnh; 02 dịch vụ can thiệp có tác động làm giảm hành vi nguy cơ lây nhiễm là xét nghiệm HIV tự nguyện có nhận kết quả và điều trị thay thế bằng Methadone. Các dịch vụ như nhận bơm kim tiêm sạch, nhận được bao cao su, tư vấn xét nghiệm HIV, điều trị Methadone cũng góp phần làm giảm hành vi nguy cơ trong nhóm nghiện chích ma túy. Nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị cần cung cấp toàn bộ cho người nghiện chích ma túy trên địa bàn gói dịch vụ cơ bản đầy đủ, đặc biệt là tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện và điều trị Methadone.
Anh Duy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 55

Số lượt truy cập: 9371374

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang