
Tại Hội nghị thường niên Tiết niệu – Thận học Việt Nam lần thứ IX được tổ chức tại thành phố Nha Trang vào tháng 8/2015, báo cáo nghiên cứu của BS Trà Anh Duy, Vũ Văn Ty, Trần Trọng Lễ - Bệnh viện Nhân dân Gia Định – TP Hồ Chí Minh được nhiều cử tọa quan tâm chú ý.
Các tác giả đã nghiên cứu đề tài “Tạo hình niệu đạo hai thì bằng mảnh ghép niêm mạc miệng trong điều trị hẹp niệu đạo phức tạp”. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2010 đến tháng 6/2014 trên 13 bệnh nhân bị hẹp niệu đạo sau được phẫu thuật tạo hình niệu đạo hai thì bằng mảnh ghép niêm mạc miệng.
Về nguyên nhân gây hẹp, có 9 bệnh nhân hẹp niệu đạo sau do chấn thương gãy xương chậu đã được tạo hình nhiều lần thất bại, đoạn niệu đạo từ gốc dương vật đến mỏm tuyến tiền liệt bị xơ hóa; có 01 bệnh nhân bị tai nạn giao thông nặng, mất hẳn bìu và niệu đạo trước cách miệng sáo 2cm cho đến niệu đạo sau; 01 bệnh nhân có đoạn hẹp dài 8cm từ niệu đạo dương vật đến niệu đạo hành; 01 bệnh nhân bị phỏng điện vùng tầng sinh môn mất hẳn niệu đạo; các bệnh nhân còn lại hẹp toàn bộ niệu đạo hoặc đã mổ thất bại nhiều lần. Tất cả các bệnh nhân đã được nhóm nghiên cứu tiến hành phẫu thuật tạo hình niệu đạo sau theo phương pháp nối tận – tận; tạo hình niệu đạo bằng mảnh ghép niêm mạc miệng 2 thì. Ở thì 1, nhóm nghiên cứu tiến hành ghép mảnh niêm mạc miệng vào nền đường đi của niệu đạo sau đến niệu đạo hành. Sau tối thiểu 6 tháng, tiến hành khép ống niêm mạc miệng lại tạo thành đường niệu đạo mới cho bệnh nhân. Bệnh nhân xuất viện sau 7 ngày phẫu thuật nếu không có biến chứng và rút thông niệu đạo sau 03 tuần.
Kết quả của phẫu thuật cho thấy tỷ lệ thành công đạt 12/13 bệnh nhân. Qua theo dõi bệnh nhân không còn dấu hiệu tắc nghẽn đường niệu đạo, ở thời điểm sau mổ 03 tháng Qmax trung bình là 21,83 ± 5,39ml/giây (thay đổi từ 9,3ml/giây đến 31,4ml/giây). Chiều dài đoạn hẹp trung bình 6,79 ± 1,35cm (ngắn nhất 5cm, dài nhất 8cm). Thời gian trung bình của phẫu thuật là 245 phút (từ 150 đến 360 phút).
Theo nhóm tác giả nghiên cứu, việc cải tiến phẫu thuật qua cách tiếp cận ngả tầng sinh môn, không phải cắt thêm xương mu. Khi sử dụng mảnh ghép niêm mạc miệng tạo hình hai đầu niệu đạo và lót mô nền đoạn niệu đạo bị mất; sau 6 tháng mô niệu đạo miệng phát triển ổn định, tiến hành cuốn ống đoạn niệu đạo bị mất với lòng ống là niêm mạc miệng. Việc tạo hình bằng mảnh ghép niêm mạc miệng qua hai thì tuy khiến cho bệnh nhân phải chịu 2 cuộc phẫu thuật nhưng mang lại hiệu quả cao và mô niêm mạc niệu đạo mới rất ổn định và sinh lý trong môi trường ẩm. Thường hầu hết bệnh lý hẹp niệu đạo có thể tạo hình 1 thì thành công nhưng có những trường hợp phải áp dụng tạo hình 2 thì như hẹp niệu đạo do viêm nhiễm, xạ trị, sỏi kẹt niệu đạo, dò niệu đạo, áp xe, hẹp niệu đạo đã phẫu thuật nhiều lần thất bại và đoạn hẹp dài do bất kỳ nguyên nhân nào. Những bệnh nhân hẹp niệu đạo phức tạp khó có thể thành công với tạo hình 1 thì, có thể chọn lựa tạo hình 2 thì.
Hẹp niệu đạo sau bệnh cảnh phức tạp, phẫu thuật khó khăn hơn, đòi hỏi thực hiện tại các trung tâm lớn đầy đủ phương tiện, bác sĩ niệu khoa chuyên về tạo hình. Trước đây tạo hình niệu đạo khi chưa áp dụng niêm mạc miệng, các bác sĩ dùng các loại mô thay thế như da quy đầu, da đùi, niêm mạc bàng quang. Da quy đầu thuộc loại bán ẩm ướt, niêm mạc bàng quang khó lấy. Da bìu, da đùi thuộc loại khô nên khi ghép vào niệu đạo sẽ bị viêm và chàm (eczema) khi tiếp xúc với nước tiểu.
Niêm mạc miệng được sử dụng tạo hình niệu đạo được Humby báo cáo đầu tiên vào năm 1941, nhưng mãi đến năm 1992 Burger và cộng sự mới dùng niêm mạc miệng tạo hình niệu đạo cho 6 bệnh nhân và đã thành công 5 bệnh nhân. Niêm mạc miệng có nhiều lợi điểm vì không tạo lông như da bìu, dương vật. Niêm mạc miệng gồm một lớp thượng bì dày chứa nhiều mô elastin, lớp lamina propria mỏng và nhiều mạch máu dễ dàng cho vấn đề máu đến nuôi qua thẩm thấu.
Nhóm tác giả đã kết luận nghiên cứu của mình, bệnh lý hẹp niệu đạo vẫn còn là vấn đề lớn và khó khăn trong điều trị. Bệnh lý hẹp niệu đạo của nam giới ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sống của bệnh nhân, nhất là niệu đạo sau, việc điều trị phức tạp và tỷ lệ tái phát cao. Tạo hình niệu đạo do nguyên nhân mắc phải vẫn còn là một thách thức đối với các bác sĩ niệu khoa. Đối với những trường hợp khó có thể thành công với phương pháp phẫu thuật tạo hình một thì, nên chọn lựa điều trị thích hợp tạo hình hai thì để tăng tỷ lệ thành công, giúp bệnh nhân không lệ thuộc vào bệnh viện để nong niệu đạo định kỳ, mau trở về cuộc sống bình thường./.
Mai Trang