
Ung thư thực quản gặp phổ biến nhất nhiều nước trên thế giới, đứng thứ 8 trong các bệnh lý ung thư và đứng thứ 3 trong các ung thư đường tiêu hóa sau ung thư đại trực tràng và dạ dày.
Tại Việt Nam, theo Nguyễn Bá Đức - Hội phòng chống Ung thư Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư thực quản tại Hà Nội ở nam là 8,7/100.000 và ở nữ là 1,7/100.000 dân, bệnh xếp thứ 5 trong 10 bệnh ung thư phổ biến. Nam giới mắc nhiều hơn nữ giới và tuổi thường gặp là 50-60 tuổi. Các biểu hiện lâm sàng hay gặp là nuốt nghẹn, đau ngực, gầy sút cân. Khi có các dấu hiệu này bệnh thường ở giai đoạn muộn và kết quả điều trị thấp, bệnh ở giai đoạn muộn chiếm tỷ lệ 60,6%.
Mặc dù có những tiến bộ rất lớn trong quá trình phát hiện sớm, chẩn đoán bệnh, cũng như tiến bộ trong điều trị nhưng tiên lượng ung thư thực quản rất xấu. Theo nghiên cứu của Châu Âu tỷ lệ sống 5 năm là 5% ở những năm 1970-1980, 9% năm 1987-1989, 10% năm 1991-2002. Với giai đoạn tiến triển, điều trị phối hợp giữa xạ trị và hóa chất thay thế cho phẫu thuật. Các biện pháp chẩn đoán hình ảnh cho phép xác định giai đoạn để có lựa chọn biện pháp điều trị ngày càng chính xác hơn.
Từ tháng 6-9/2015 tác giả Nguyễn Văn Học và Đỗ Đức Cường - Bệnh viện Y học Cổ truyền Quân đội, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận xét đặc điểm hình ảnh ung thư thực quản trên chụp cắt lớp vi tính đa dãy”.
Chụp cắt lớp vi tính đa dãy được thực hiện tại phòng chụp cắt lớp vi tính đa dãy Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Trung ương quân đội 108 để đánh giá vị trí tổn thương, tổn thương theo chu vi thực quản, mức độ xâm lấn theo chiều dày thực quản, và mức độ có di căn hạch và di căn các tạng trong lồng ngực, ổ bụng.
Theo báo cáo của tác giả Đỗ Đức Cường, qua khảo sát 43 trường hợp được xác định chẩn đoán bằng giải phẫu bệnh là ung thư thực quản, nhóm tuổi gặp nhiều nhất của ung thư thực quản là 50-59 (chiếm 48,8%) lứa tuổi 60-69 cũng có tỷ lệ bị bệnh cao với tỷ lệ 25,6%. Tuổi cao nhất 77, thấp nhất 45. Tuổi trung bình 57,9±7,4. Giới tính: Nam giới trong nhóm nghiên cứu chiếm 100%. Triệu chứng nuốt nghẹn gặp nhiều nhất, chiếm 86%, đau ngực (72,1%), gầy sút cân chiếm 64,7%.
Về hình ảnh chụp cắt lớp vi tính: Vị trí khối u: qua chụp cắt lớp vi tính đa dãy dựa trên dựng hình tái tạo đa mặt phẳng (MPR) có thể đo được khoảng cách từ cung răng trên đến vị trí khối u, nên có thể xác định một cách chính xác vị trí khối u. Trong nghiên cứu kết quả cho thấy tỷ lệ ung thư thực quản 1/3 trên, giữa, dưới lần lượt là 9,3%; 48,8%; 41,9%. Như vậy vị trí ung thư 1/3 giữa thường gặp nhất, tiếp theo là 1/3 dưới.
Bs Đỗ Đức Cường phân tích về dấu hiệu dày thành thực quản, theo tác giả Déai PK, độ dày thành ống tiêu hóa nói chung và thực quản nói riêng, nếu vượt quá 5mm là bất thường, quá 15 mm khả năng ác tính cao. Chụp cắt lớp vi tính không thể phân biệt được dày thành theo từng lớp của thực quản ở giai đoạn T1 và T2. Tuy nhiên khả năng phát hiện của cắt lớp vi tính đối với giai đoạn T3 và T4 là rất cao.
Về dấu hiệu xâm lấn ra ngoài thành thực quản: Nhiều tác giả trên thế giới khẳng định rằng, xâm lấn ra ngoài thành thực quản là dấu hiệu quan trọng nhất có tính chất quyết định phân loại tổn thương và tiên lượng phẫu thuật do khi đã xâm lấn thành thực quản thì nguy cơ xâm lấn khí phế quản và động mạch chủ nhiều hơn.
Đối với di căn hạch: Bs Cường có nhận xét khả năng phát hiện hạch của cắt lớp vi tính rất cao (100%). Kết quả của nghiên cứu cũng tương tự với kết quả của các tác giả khác trong nước và thế giới. Về phân loại giai đoạn ung thư thực quản: Trung nghiên cứu có 97,7% ung thư thực quản ở giai đoạn III, IV.
Theo giáo sư Nguyễn Chấn Hùng, chủ tịch Hội ung thư Việt Nam, đối với những trường hợp ung thư dạ dày hoặc ung thư vùng miệng người bệnh không có cảm giác thèm ăn, còn đối với người bị ung thư thực quản thèm ăn mà ăn không được.
Ung thư thực quản là một trong những ung thư khó điều trị. Để phòng ngừa ung thư thực quản cần tránh xa khói thuốc lá, uống bia rượu vừa phải, ăn nhiều rau trái.
Huy Hoàng