Ung thư vú (UTV) là ung thư thường gặp nhất trên thế giới và tại Việt Nam, đây cũng là ung thư gây tử vong hàng đầu của nữ giới, đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cung. Ung thư vú ngày càng phổ biến ở các nước đang phát triển, nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời, các tế bào ung thư có thể di căn đến các bộ phận khác trong cơ thể và dẫn tới tử vong. Theo nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, UTV thường có xuất độ cao thứ nhất hoặc thứ nhì so với các loại ung thư khác ở giới nữ. Theo số liệu của Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Hoa Kỳ (NCI), chỉ riêng năm 2010 UTV đã cướp đi sinh mạng khoảng 40.000 người.
Nhận thức chưa đầy đủ về bệnh Ung thư vú cũng như ích lợi của việc sàng lọc, phát hiện sớm là những rào cản quan trọng đối với phụ nữ trong việc đi khám, phát hiện sớm các khối u ở vú giúp tăng cơ hội chữa khỏi bệnh.
Kết quả nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện K Trung ương cho thấy 72% bệnh nhân Ung thư vú được chẩn đoán khi đã ở giai đoạn muộn (giai đoạn 3 và 4), trong khi bệnh có thể phát hiện sớm. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, tỷ lệ sống còn 5 năm của bệnh nhân UTV giai đoạn 0 là 93%; giai đoạn I là 88%; giai đoạn II: 81%; giai đoạn IIIA: 67%; giai đoạn IIIB: 41%; giai đoạn IV: 15%.
Từ tháng 03/2017 đến tháng 10/2017, ThS.Nguyễn Thị Quế Lâm cùng cộng sự Trung tâm Truyền thông GDSK Khánh Hòa thực hiện nghiên cứu cắt ngang báo cáo đề tài “Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống bệnh ung thư vú ở phụ nữ thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” với 2 mục tiêu: (1) Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh ung thư vú ở phụ nữ thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2017, (2) Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh ung thư vú ở phụ nữ thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa năm 2017. Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ từ 20-60 tuổi trên địa bàn thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tại thời điểm nghiên cứu; tự nguyện tham gia nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 240 phụ nữ từ 20-60 tuổi tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) chủ yếu ở độ tuổi 41-50 (36,7%). Trình độ học vấn THCS là 37,5%; nghề nghiệp là nông dân có tỷ lệ 30%, buôn bán (20,8%) và CB-CNV là 17,5%. Đa số có thu nhập bình quân từ 1-5 triệu đồng/tháng (55%; 30,4%).
Đa số phụ nữ trong nghiên cứu đã có gia đình (84,6%); Tỷ lệ phụ nữ có 2 con chiếm 52,1%; có con đầu lòng ở độ tuổi từ 20-29 tuổi có tỷ lệ 81,2%; có 7,5% ĐTNC bắt đầu sinh con lúc trên 30 tuổi. Kết quả nhiều nghiên cứu liên quan cho thấy số lần sinh cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến UTV. Phụ nữ chưa sinh lần nào nguy cơ mắc UTV cao hơn so với phụ nữ đã sinh đẻ một hoặc nhiều lần. Phụ nữ có thai lần đầu trên 30 tuổi nguy cơ phát triển UTV tăng từ 4 đến 5 lần so với so với phụ nữ đẻ con trước tuổi 20. Phụ nữ không có con nguy cơ UTV tăng gấp đôi so với những phụ nữ có từ 1 đến 2 con. Trong nghiên cứu này, có 3,3% ĐTNC xác nhận có người thân bị UTV.
Đa số phụ nữ được phỏng vấn cho rằng đã từng nghe thông tin về UTV (92,9%); nguồn tiếp cận thông tin phổ biến nhất là ti vi (71,7%), từ cán bộ y tế (50,8%), đài (42,1%), bạn bè và người thân (37,1%), có 14,6% tiếp cận qua internet.
Đối với kiến thức về phòng chống UTV của phụ nữ trong nghiên cứu, kết quả cho thấy có 92,1% phụ nữ trả lời đúng UTV là một trong những ung thư phổ biến ở phụ nữ; UTV không thể lây từ người này sang người khác (82,5%). Có 75,4% phụ nữ cho rằng cho con bú sẽ giảm thiểu nguy cơ UTV, có 67,9% phụ nữ đồng ý mãn kinh sau 55 tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ UTV; có 45,4% cho rằng uống rượu bia không có khả năng gây UTV.
Có 62,5% không cho rằng phụ nữ dưới 30 tuổi dễ mắc UTV; có 46,7% ĐTNC cho rằng phụ nữ thừa cân, béo phì không liên quan đến nguy cơ mắc UTV; hút thuốc lá có khả năng gây UTV có tỷ lệ 43,8%. Có 90% ĐTNC biết được bệnh nhân UTV luôn xuất hiện khối u trong vú; có 53,5% phụ nữ biết đuợc có u cục cứng ở vú là một trong những triệu chứng biểu hiện của bệnh UTV. Có 76,2% ĐTNC trả lời đúng dấu hiệu của UTV là rỉ dịch từ núm vú (màu hồng hoặc có máu); có 68,8% ĐTNC cho rằng UTV có thể mắc dù không có triệu chứng gì.
Đa số ĐTNC cho rằng đi khám lâm sàng chuyên khoa vú, siêu âm vú, tự khám vú và chụp nhũ ảnh là các phương pháp hiện có giúp chẩn đoán, phát hiện UTV với tỷ lệ trả lời đồng ý lần lượt là 96,7%, 91,7%, 86,2% và 81,7%. ĐTNC có kiến thức chung về UTV đạt có tỷ lệ 21,2%.
Hồng Sơn