Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ mắc rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 1,2% trong quần thể dân số chung. Theo ECA tỷ lệ này là 0,4%-0,8% (tỷ lệ lưu hành 6 tháng); ở nam giới tỷ lệ này là 0,4%; ở nữ giới là 0,9%. Trong cơ cấu bệnh lý tâm thần, rối loạn cảm xúc xếp thứ hai trong số những bệnh tâm thần nặng, là bệnh cần được quan tâm đối với bác sĩ nội khoa, y tế cơ sở.

Theo các chuyên gia bệnh tâm thần, thực tế ở những Bệnh viện Tâm thần tuyến cơ sở, hầu như bệnh nhân hưng cảm không được chẩn đoán, hay bị bỏ qua; có đến hơn 65% người bệnh có các biểu hiện hưng cảm mà không được chẩn đoán và điều trị thỏa đáng, gây ra tình trạng mãn tính, giảm hoặc mất khả năng lao động và học tập, phải thường xuyên nằm viện. Việc chẩn đoán hưng cảm ở các bệnh nhân gặp nhiều khó khăn, do triệu chứng hưng cảm không điển hình; nổi bật là các triệu chứng tâm thần phong phú, đa dạng. Hưng cảm điều trị khác hoàn toàn so với các rối loạn tâm thần khác, đặc biệt là điều trị dự phòng các bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
Từ tháng 12/2012 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Dũng và cộng sự Viện Sức khỏe Tâm thần- Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng của giai đoạn hưng cảm nặng có loạn thần trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực”. Đối tượng nghiên cứu là 63 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là bệnh nhân tâm thần phân liệt trên 45 tuổi của ICD-10; điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe Tâm thần Bệnh viện Bạch Mai, mã bệnh mục F20, tác giả nghiên cứu sử dụng các trắc nghiệm tâm lý để đánh giá mức độ rối loạn tâm thần.
BS.Nguyễn Văn Dũng báo cáo, ở giai đoạn đầu, biểu hiện sớm nhất và gặp nhiều nhất ở hưng cảm là giảm nhu cầu ngủ, mất ngủ (100%); tiếp theo là tăng nhẹ khí sắc (97%); các thay đổi tính cách so với trước đây (93%); hoạt động tăng ở mức độ vừa phải (85%). Về tính chất khởi phát, có 73% đối tượng nghiên cứu hưng cảm khởi phát nhanh từ 2-5 ngày; các nghiên cứu khác cũng cho kết quả hưng cảm từ khi khởi phát đến cơn đầy đủ kéo dài quá 1 tuần; có nghiên cứu trên thế giới báo cáo có thể gặp cơn hưng cảm và khởi phát nhanh chóng vài giờ (nghiên cứu của GY.Hunt, Gadrews và HY Sunich). BS.Dũng khuyến cáo vấn đề giáo dục bệnh tâm thần trong cộng đồng cần quan tâm; giúp hiểu biết và phát hiện bệnh sớm ở gia đình có người bệnh.
Tác giả nghiên cứu cho biết, theo ICD-10, đặc điểm cơ bản phổ biến của hưng cảm là khí sắc tăng; trong nghiên cứu 100% bệnh nhân hưng cảm có khí sắc tăng. Tuy nhiên tùy theo quy trình phát triển bệnh, sự tăng khí sắc biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể, khí sắc tăng với sự vui vẻ, cởi mở, tình cảm, lạc quan không mệt mỏi như mô tả cổ điển của tác giả Kraepeklin chiếm tới 98%, kết quả nghiên cứu là 60%; điều này phù hợp kết quả nhiều nghiên cứu vì hưng cảm ngày càng ít điển hình như mô tả cổ điển.
Khi hưng cảm ở mức độ trung bình, bệnh nhân thường ở tình trạng kích thích, cáu giận. Trong nghiên cứu tỷ lệ này là 53%. Khi khí sắc tăng cao, sự vui vẻ quá mức, sống với khoái cảm trong nghiên cứu là 67% bệnh nhân. Khi các triệu chứng nặng dần, sự tăng cao khí sắc biểu hiện bằng tình trạng náo động, gây ra xung quanh bệnh nhân một không khí ồn ào, náo nhiệt, hỗn độn có 37% bệnh nhân ở trong trạng thái này. Tác giả nghiên cứu lưu ý, ngày nay sự náo động khi khí sắc tăng cao gặp nhiều hơn, do nhiều yếu tố kích thích từ môi trường bên ngoài làm khác đi hình ảnh hưng cảm cổ điển là sự vui vẻ, truyền cảm. Trong nghiên cứu cũng ghi nhận có 10% bệnh nhân cơn trầm cảm ngắn trong ngày; cơn trầm cảm này khó phát hiện ra trên nền khí sắc tăng cao, cần phải khám xét thật kỹ trên lâm sàng.
BS.Dũng báo cáo, hình thức rối loạn tư duy phổ biến nhất là nói nhiều; có tỷ lệ 100% bệnh nhân hưng cảm. Bệnh nhân hưng cảm có triệu chứng riêng biệt là nhu cầu nói không cưỡng được. Đối với tư duy phi tán, một rối loạn ngôn ngữ đặc trưng của hưng cảm. Khi nhịp độ tư duy tăng mạnh, cùng với sự thiếu tập trung cao độ, bệnh nhân nói những câu không hoàn chỉnh, rời rạc, không liên quan. Trong nghiên cứu tỷ lệ này là 33%. Đối với giảm khả năng tự phê phán, óc phán đoán, sự nhận thức ở bệnh nhân hưng cảm là triệu chứng khá phổ biến; trong nghiên cứu tỷ lệ ghi nhận là 93%. Đối với giảm tập trung chú ý trong quá trình tư duy nông cạn liên tưởng nhanh, tỷ lệ trong nghiên cứu là 97%. Trong nghiên cứu cũng có đến 83% bệnh nhân hưng cảm có tăng trí nhớ, phù hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước.
BS.Dũng cho biết, biểu hiện tăng hoạt động như làm nhiều, can thiệp vào mọi việc, đi nhiều, hoạt động không ngừng là triệu chứng phổ biến, có khi 100% bệnh nhân; kích động vận động, công kích đe dọa, xuất hiện ở 67% bệnh nhân, ở nam giới gặp nhiều hơn. Trong nghiên cứu ghi nhận bệnh nhân hưng cảm đe dọa, đánh lại người thân trong gia đình. Một đặc điểm khác là bệnh nhân phung phí tiền bạc quá mức, tỷ lệ đến 75% bệnh nhân. Bệnh nhân tăng tình dục với cử chỉ suồng sã, hành vi lời lẽ khiêu dâm, tỷ lệ có thể đến 80%. Đối với triệu chứng ăn nhiều giảm cảm giác về thức ăn tỷ lệ 83%. Ở bệnh nhân nam ăn nhiều, uống rượu nhiều (50%). Bệnh nhân có những giấc ngủ ngắn trong ngày 1-2 giờ; mất ngủ, giảm nhu cầu ngủ. Có 50% bệnh nhân giảm trọng lượng cơ thể, sút cân. Về trang phục bệnh nhân bao giờ cũng rực rỡ màu sắc, có nhóm bệnh nhân ăn mặc lôi thôi, bẩn do quá kích động. Về triệu chứng loạn thần, hoang tưởng tự cao 73%. Có 04 loại khả năng đặc biệt về khoa học, nghệ thuật, phát minh; cho mình là người quan trọng trong gia đình; chiếm hữu 1 số tài sản lớn, có sứ mệnh đặc biệt. Trong nghiên cứu gặp nhiều ở nhóm khả năng làm giàu, có tài lãnh đạo, luôn đòi chia cho mọi người nhiều thứ tưởng tượng.
BS.Dũng lưu ý, những yếu tố thúc đẩy tái phát cơn hưng cảm như sự kiện đời sống, bỏ điều trị duy trì đột ngột; thiếu ngủ. Tuy nhiên có 37% số bệnh nhân không tìm thấy nguyên nhân tái phát cơn hưng cảm. Thời gian thuyên giảm trung bình giữa các cơn của bệnh nhân được điều trị duy trì đều là 3 năm; đối với bệnh nhân không điều trị là 2 năm.
Ngô Thanh