Chấn thương là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nhóm tuổi từ 1-44 trên thế giới. Nguyên nhân chính gây ra tử vong do chấn thương là bệnh nhân sốc mất máu không hồi phục, chấn thương sọ não và suy đa tạng.

Theo các chuyên gia chấn thương, rối loạn đông máu ở bệnh nhân chấn thương nặng do nhiều cơ chế gây ra như do thiếu hụt; pha loãng, tiêu thụ và rối loạn chức năng các yếu tố đông máu. Đặc điểm của rối loạn đông máu trong chấn thương là kéo dài thời gian tạo cục máu đông, giảm độ bền và mất tính ổn định cục máu đông do có sự tăng ly giải fibrin.
Các chuyên gia cho biết, các xét nghiệm đông máu truyền thống chỉ khảo sát plasma đơn thuần và ngưng lại sau khi xuất hiện những sợi fibrin đầu tiên, tương ứng với 5% tổng hợp thrombin được tạo ra; do vậy xét nghiệm không khảo sát được khả năng đông máu trong cơ thể và tính bền vững của cục máu đông. Phương pháp đo đàn hồi cục máu (ROTEM) khảo sát máu toàn phần giúp phản ánh chính xác và đầy đủ khả năng máu đông, cung cấp thông tin mang tính động học về tốc độ đông máu, diễn tiến hình thành và độ bền của mục máu đông cũng như khi bị phá hủy.
Từ tháng 8/2016 đến tháng 1/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thị Ngọc Thảo, Nguyễn Vinh Anh cùng cộng sự Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh thực hiện nghiên cứu mô tả, lấy mẫu thuận tiện hàng loạt ca, báo cáo đề tài “Nghiên cứu tình trạng rối loạn đông máu ở bệnh nhân chấn thương nặng- ứng dụng phân tích đàn hồi đồ cục máu ROTEM”. Đối tượng nghiên cứu là 30 bệnh nhân trên 18 tuổi bị chấn thương vào Khoa Cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy TP.Hồ Chí Minh trong tình trạng: tổn thương từ 2 cơ quan trở lên có nguy cơ đe dọa tính mạng; huyết áp tâm thu < 90mmHg; chỉ số mức độ nặng chấn thương ISS (Injury Severity Score) > 16. Nghiên cứu không chọn bệnh nhân đã phẫu thuật tuyến trước, phụ nữ có thai, có bệnh xơ gan, suy thận, bệnh lý về máu; bệnh nhân đang dùng thuốc kháng đông hoặc thuốc kháng kết hợp tiểu cầu.
Trước khi tiến hành can thiệp (thời điểm 0 giờ) tất cả bệnh nhân được lấy mẫu máu cho ROTEM 2,7ml; tiến hành trên 3 kênh INTEM, EXTEM, FIBTEM. Trong vòng 10 phút sau khi rút máu, ở nhiệt độ 37 độ C trên máy ROTEM (Pentapharm GmbH, của Đức sản xuất) các thông số thu thập là CT, CFT, góc α, A 5, MCF, ML cho từng kênh. Khi kết quả trên INTEM và EXTEM cho thấy có tăng ly giải fibrin với ML > 15%; tác giả nghiên cứu tiến hành kênh APTEM để kiểm chứng tình trạng tăng tiêu sợi huyết. ROTEM được tiến hành song song và độc lập với điều trị của bác sĩ lâm sàng. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn đông máu lấy theo Hội hồi sức cấp cứu châu Âu năm 2013 về xử trí rối loạn đông máu ở bệnh nhân chấn thương nặng. Tăng ly giải fibrin khi độ ly giải tối đa (ML) ở EXTEM lớn hơn 15% và ML ở APTEM bình thường. Theo phân loại của Schochl, tăng ly giải fibrin dạng toàn phát khi hủy hoàn toàn cục máu đông trong 30 phút đầu tiên, dạng trung gian, hủy hoàn toàn cục máu đông sau 30 phút cho đến 60 phút; dạng muộn, hủy cục máu đông xuất hiện sau 60 phút.
BS.Ngọc Thảo báo cáo, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 39,4; nam giới chiếm 76%. Cơ chế chấn thương kín chiếm 76%; điểm ISS trung bình là 33,3 điểm; tình trạng sốc lúc nhập viện với huyết áp tâm thu < 90 mmHg được ghi nhận 25/30 trường hợp. Có 30% bệnh nhân tử vong trong 24 giờ đầu (9 ca); tử vong do sốc mất máu không kiểm soát được là 5 ca, tử vong do chấn thương sọ não nặng 04 ca. Trong 6 giờ đầu nhập viện, tổng lượng máu truyền trung bình là 5 đơn vị; người cao nhất là 25 đơn vị. Trong 24 giờ đầu sau nhập viện, tổng lượng máu trung bình truyền là 5 đơn vi; cao nhất là 36 đơn vị; tỷ lệ hồng cầu lắng; plasma tươi đông lạnh trung bình là 1,75. Phẫu thuật cấp cứu 13 ca; DSA can thiệp 3 ca. Các chỉ số ISS; điểm Glasgow và lactat máu lúc bệnh nhân nhập viện có liên quan với tử vong trong 24 giờ đầu (p < 0,05).
BS.Thảo phân tích, tỷ lệ rối loạn đông máu bệnh nhân lúc nhập viện là 70% theo kết quả đông máu truyền thống. Giảm fibrinogen có tỷ lệ cao hơn so với tăng INR. Tỷ lệ thời gian đông máu kéo dài thấp hơn so với tỷ lệ giảm biên độ cực đại của cục máu. Quá trình hồi sức và diễn tiến mất máu không kiểm soát ở bệnh nhân sẽ khiến rối loạn đông máu sẽ nặng thêm theo cơ chế pha loãng, thiếu hụt, tiêu thụ và rối loạn chức năng các yếu tố đông máu mà fibrinogen là yếu tố đông máu giảm đầu tiên. Toan chuyển hóa và hạ thân nhiệt, hai thành phần còn lại của tam giác chết, góp phần làm tăng phá hủy fibrinogen khi sốc mất máu kéo dài.
Trong nghiên cứu có 03 trường hợp tăng ly giải fibrin toàn phát, cả 3 bệnh nhân đều tử vong trong vòng 24 giờ. Có sự liên quan giữa các chỉ số thể hiện tình trạng giảm tưới máu mô (lactat máu và huyết áp tâm thu, p < 0,05) và sự ly giải fibrin.
BS.Ngọc Thảo có kết luận tỷ lệ rối loạn đông máu lúc nhập viện ở bệnh nhân chấn thương nặng là 70%. Các giá trị của ROTEM lúc nhập viện gồm CT, CF, T, MCF ở các kênh INTEM, EXTEM, FIBTEM liên quan có ý nghĩa thống kê với tử vong 24 giờ. Ngưỡng điều trị MCF FIBTEM nhỏ hơn 7 mm và CFT EXTEM > 200 giây liên quan đến tử vong sớm sau chấn thương (p < 0,01). Tình trạng tăng ly giải fibrin là 10% và có tỷ lệ tử vong 100% liên quan có ý nghĩa thống kê với trị số huyết áp tâm thu và lactac máu.
Thanh Tùng