Phương pháp điều trị triệt để và hiệu quả của khối dị dạng thông động tĩnh mạch não là phẫu thuật cắt bỏ khối dị dạng.

Theo các chuyên gia phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật thường đơn giản khi cắt bỏ những khối dị dạng nhỏ, ở nông; còn đối với những trường hợp khối dị dạng mạch não lớn và ở vùng chức năng hoặc ở sâu thì phẫu thuật phức tạp và khó khăn. Đánh giá kết quả điều trị dựa vào phương pháp khám lâm sàng và chụp mạch kiểm tra. Ttrên thế giới phương pháp chụp động mạch não số hóa (DSA) được xem là phương pháp chủ yếu để đánh giá kết quả sau mổ dị dạng mạch não. Đối với phương pháp chụp cắt lớp vi tính đa đãy có dựng mạch não dần dần đang thể hiện được vai trò trong chẩn đoán, kiểm tra và theo dõi sau mổ. Ưu điểm của phương pháp chụp cắt lớp vi tính đa dãy là không gây sang chấn, dễ thực hiện, ít nguy cơ hơn so với chụp động mạch não DSA, hạn chế được nguy cơ sốc thuốc; ngoài ra phương pháp còn giúp vừa kiểm tra được não vừa kiểm tra được hệ mạch máu não sau mổ.
Từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thế Hào cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang gồm hồi cứu và tiến cứu, báo cáo đề tài “Đánh giá vai trò của chụp cắt lớp vi tính đa dãy kiểm tra sau mổ khối dị dạng mạch máu não”. Có 225 bệnh nhân tham gia nghiên cứu; bệnh nhân trong mổ được xác định loại clip, số lượng, hình dạng, kích thước clip sau sử dụng, vị trí đặt. Sau mổ được chụp cắt lớp vi tính 64 dãy, có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch.
BS.Nguyễn Thế Hào báo cáo 225 bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính đa dãy có dựng mạch sau mổ, hình ảnh đẹp và rõ nét trong 197 bệnh nhân (87,6%), có 28 bệnh nhân có hiện tượng nhiễu ảnh (12,4%), có 81,8% chụp thời điểm dưới 1 tuần, thời điểm 1-4 tuần có 14,2%; thời điểm trên 4 tuần có 9 trường hợp (4%). Về vị trí khối dị dạng mạch đã mổ vị trí ở trán có 19,1%; thái dương 16%; thùy đảo 3,5%; vị trí trán-thái dương chiếm 12%; chẩm 13,3%; đỉnh 8,4%; đường giữa 9,3%; não thất 8% và hố sau 10,2%.

Tác giả nghiên cứu phân tích, vì những ưu điểm của chụp động mạch não số hóa (DSA) nên phương pháp này vẫn còn được xem là cách truyền thống để đánh giá sự thành công về mặt kỹ thuật sau mổ khối dị dạng mạch máu não; phương pháp DSA còn giúp tiên lượng bệnh nhân sau mổ. Tuy nhiên chụp cắt lớp vi tính có dựng mạch và tái tạo không gian 3 chiều cho phép phân tích rõ ràng khối dị dạng đã được cắt bỏ hoàn toàn; sự toàn vẹn của các động mạch não; đây là phương pháp đánh giá kết quả sau mổ dị dạng thông động tĩnh mạch não có hiệu quả.
BS.Hào lưu ý, chụp cắt lớp vi tính đa dãy có dựng hệ mạch não sau mổ giúp đánh giá về giải phẫu vì cho biết vị trí chính xác của clip, khối dị dạng mạch đã được loại bỏ hoàn toàn hay còn, có làm tắc tĩnh mạch não; phát hiện được những tổn thương khác của hệ thống mạch máu não có thể bị bỏ sót trong phim chụp lần đầu.
BS.Hào cho biết, chụp DSA có thể gây ra các biến chứng như giảm thị lực, yếu nửa người, nói khó, nhìn đôi, chóng mặt; dấu hiệu nystagmus có tính tạm thời, có người vĩnh viễn. Các biến chứng khác như chảy máu, khối máu tụ ở vị trí chọc catheter, dị ứng, tắc mạch chi rất ít gặp.
Trong nghiên cứu, tác giả cho biết thường tiến hành chụp cắt lớp vi tính sớm ngay sau mổ, mục đích nhằm vừa kiểm tra được tình trạng não, vừa kiểm tra được hệ thống mạch máu não. Thời điểm chụp sớm nhất là 3 ngày sau mổ, muộn nhất là 34 ngày sau mổ. Thời gian trung bình là 3,4 ngày sau mổ. Có 12,4% có hình ảnh nhiễu; đây là hạn chế của chụp cắt lớp vi tính vì liên quan với clip ở vị trí mổ; số lượng clip và loại clip. Càng nhiều clip thì độ nhiễu càng cao. Loại clip cobalt-alloy gây nhiễu hơn loại titanium. Một nhược điểm khác của chụp MSCT Scan là khó đánh giá sự toàn vẹn của các mạch bên, khó đánh giá kết quả các khối dị dạng mạch não ở tuần hoàn sau. Trong nghiên cứu có 4,4% bệnh nhân có khối dị dạng mạch não ở tuần hoàn sau.
Phẫu thuật đạt kết quả tốt chiếm tỷ lệ 89,8%; có 12 bệnh nhân (5,3%) có biến chứng tắc động mạch não sau mổ và 11 bệnh nhân (4,9%) còn hình ảnh tồn dư khối dị dạng mạch não. Nguyên nhân chủ yếu do bị clip kẹp, hay huyết khối. Kích thước tồn dư càng lớn thì việc phát hiện sau mổ càng cao. Kiểm tra, kể cả chụp DSA cũng không thể loại trừ khả năng bệnh nhân vẫn có thể xuất hiện những tổn thương khác, do vậy sự theo dõi lâu dài sau mổ bằng phương pháp xâm lấn là chụp cắt lớp vi tính đa dãy định kỳ 1 năm 1 lần có thể lợi ích hơn đối với người bệnh.
Tác giả nghiên cứu, BS.Nguyễn Thế Hào kết luận, chụp cắt lớp vi tính đa dãy kiểm tra sau mổ là phương pháp hiệu quả, an toàn, ít biến chứng để đánh giá kết quả sau mổ khối dị dạng thông động tĩnh mạch não.
Minh Tâm