Theo báo cáo của Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh, tính đến ngày 30/9/2017 toàn tỉnh Khánh Hòa có hơn 2.500 trường hợp mắc sốt xuất huyết, không có trường hợp tử vong. Có 97 ổ dịch đã được xử lý.
Từ tháng 6/2017, số ca mắc mới sốt xuất huyết (SXH) có xu hướng gia tăng; huyện Cam Lâm, Diên Khánh và TP Nha Trang là 03 địa phương có số ca mắc tăng cao và có nhiều ổ dịch SXH. Trung tâm Y tế Dự phòng báo cáo có 204 mẫu phân lập vi rút SXH, có 45 mẫu dương tính; trong đó có 32 mẫu D1, 05 mẫu D2, và 08 mẫu D4. Các năm trước tại Khánh Hòa có sự hiện diện của cả 4 týp là D1, D2, D3 và D4.
Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Y tế Dự phòng-Bộ Y tế, tính đến ngày 23/10/2017 có hơn 148.000 trường hợp SXH, 30 trường hợp tử vong. Trong đó có 125.286 trường hợp nhập viện điều trị sốt xuất huyết.

Dengue được chia thành 4 týp theo kháng nguyên huyết thanh; tất cả 4 týp vi rút Dengue đã được thấy lưu hành tại Việt Nam. Theo báo cáo của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho thấy týp 1 và týp 2 chiếm ưu thế. Týp 3 xuất hiện vào cuối thập niên 1990 và là týp ưu thế trong đợt bùng dịch SXH năm 1998. Các chuyên gia SXH có nhận xét, hiện nay phần lớn nghiên cứu tập trung nhiều vào yếu tố ảnh hưởng đến tính trầm trọng của bệnh, còn nghiên cứu so sánh sự khác biệt trong biểu hiện lâm sàng giữa các týp vi rút Dengue chưa nhiều, chưa rõ ràng, đặc biệt trên đối tượng trẻ em. Việc xác định týp vi rút chiếm ưu thế trong từng vụ dịch và các biểu hiện lâm sàng đặc trưng ứng với từng týp rất quan trọng trong việc quản lý dịch bệnh cũng như giúp đưa ra được phương án giải quyết và điều trị phù hợp.
Từ tháng 12/2014 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Minh Dũng cùng cộng sự Bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh, Bệnh viện Nông nghiệp Hà Nội và Bệnh viện 103 tiến hành nghiên cứu đề tài “Mối liên quan giữa týp vi rút với một số đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhi sốt xuất huyết Dengue”. Đối tượng nghiên cứu có 59 bệnh nhi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 được chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue (SXHD) theo tiêu chuẩn chẩn đoán Bộ Y tế năm 2011 và hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2009, có xuất huyết tiêu hóa, được gia đình hoặc người giám hộ đồng ý cho tham gia nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu cho biết mẫu máu đối tượng nghiên cứu được tách huyết thanh, bảo quản ở 80 độ C cho đến khi tách RNA của vi rút Dengue; chọn mồi và chương trình của phản ứng Multiphex RT-PCR cho định týp Dengue được làm theo nghiên cứu của Lanciotti.

BS. Lê Minh Dũng báo cáo, bệnh nhân ở các týp khác nhau trong nghiên cứu đều có sốt với các tỷ lệ khác nhau. Týp 2 có tỷ lệ cao nhất (50,1%), týp 1 có tỷ lệ 33,3%; týp 3 và týp 4 bằng nhau là 8,3%. Tác giả nghiên cứu nhận xét đặc điểm về thân nhiệt không mang tính đặc trưng co týp vi rút của vi rút Dengue.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, trong nghiên cứu các triệu chứng về tiêu hóa như chán ăn, nôn, đau bụng, gan to, không tìm thấy sự khác biệt giữa các bệnh nhi nhiễm týp 2 so với các týp khác. Các nghiên cứu nước ngoài của tác giả Rajni Kumaria năm 2010 báo cáo biểu hiện gan to và đau bụng là 2 triệu chứng có sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhân nhiễm týp huyết thanh khác nhau. Tác giả lưu ý triệu chứng đau bụng là cao hơn đáng kể trong týp 2, chán ăn là cao hơn hẳn trong týp 3; gan to là cao hơn hẳn trong týp 2 và týp 3.
BS.Dũng cho biết, khi so sánh các biểu hiện xuất huyết trong nhiễm các týp Dengue khác nhau, không có sự khác biệt giữa các nhóm bệnh nhi giữa các týp 2 và các týp 1,3,4. Có nghiên cứu quốc tế chỉ ra tần suất gặp xuất huyết dạng chấm, nốt trong những týp 1 khác biệt không có ý nghĩa thống kê so với những týp 2. Trong nghiên cứu, tác giả nghiên cứu báo cáo có 91,2% bệnh nhi nhiễm týp 2 có sốc, tỷ lệ này cao hơn so với các týp 1,3 và 4 (88%). Tác giả cho biết týp 2, týp 3 có nguồn gốc từ Đông Nam Á có liên quan đến tăng nguy cơ gây hội chứng sốc ở Châu Mỹ, Nam Thái Bình Dương và Srilanka. Các triệu chứng về tuần hoàn khác như mạch, huyết áp trong nghiên cứu cũng không có sự khác biệt giữa týp 2 và các týp còn lại.
BS.Dũng báo cáo, các triệu chứng như đau cơ hay ban dát đỏ cũng không có sự khác biệt giữa týp 2 và các týp còn lại. Theo nghiên cứu của tác giả Halsey và cộng sự triệu chứng đau cơ, ban dát đỏ xuất hiện khá phổ biến ở cả 4 týp 1, 2, 3 và 4. Trong đó tỷ lệ triệu chứng đau cơ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với các týp 1, 3 và 4.
BS.Lê Minh Dũng kết luận, các triệu chứng lâm sàng xuất hiện khá phong phú và phân bố ở đủ 4 týp huyết thanh của Dengue. Tác giả nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa các týp vi rút với một triệu chứng lâm sàng cụ thể nào. Các đặc điểm lâm sàng không mang tính đặc trưng cho týp vi rút trong SXHD ở trẻ em.
Mai Trang