Bệnh lý võng mạc trẻ đẻ non (Retinopathy of Prematutity = ROP) là sự rối loạn phát triển mạch máu xảy ra ở trẻ sinh non nhẹ cân, bệnh có thể gây mất thị lực nghiêm trọng.

Năm 1942, tác giả Terry mô tả bệnh lý võng mạc trẻ đẻ non, phát hiện bệnh bằng đèn soi đáy mắt trực triếp, thấy hình ảnh mạch máu cực sau dãn ngoằn nghèo, cương tụ, sau đó phù võng mạc. Năm 1951, với sự ra đời của đèn soi đáy mắt gián tiếp, thuật ngữ ROP lần đầu được đưa ra bởi Parker Heath.
Theo các chuyên gia nhãn khoa, cơ chế bệnh sinh của ROP hiện nay chưa rõ ràng. Một thuyết được đề cập nhiều hiện nay là có sự liên quan với nồng độ oxy trong lồng ấp. Khi nồng độ oxy tăng dẫn đến sự co các mạch máu chưa hoàn chỉnh của võng mạc ngoại vi, từ đó gây ra thiếu máu cục bộ và xuất hiện tân mạch rồi xơ hóa vùng võng mạc thiếu máu, cuối cùng là bong võng mạc. Các chuyên gia nhãn khoa cho rằng có nhiều yếu tố liên quan đến sự phát sinh bệnh ROP như cận nặng khi sinh, số tháng tuổi khi sinh, hội chứng suy hô hấp, bệnh nhiễm trùng khi sinh. Trong những yếu tố đó, cân nặng khi sinh thấp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh. Trẻ đẻ non có cân nặng khi sinh càng thấp thì nguy cơ xuất hiện bệnh võng mạc càng cao. Các nghiên cứu chỉ ra có khoảng 50% trẻ sinh non với cân nặng dưới 1250gam có dấu hiệu của bệnh võng mạc trẻ đẻ non. Tại Việt Nam ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội từ năm 2000 đã triển khai khám phát hiện bệnh ROP để điều trị cho những bệnh nhi.
Từ tháng 2/2010 đến tháng 3/2011, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quốc Đạt cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Đà Nẵng thực hiện nghiên cứu tiến cứu không đối chứng, báo cáo đề tài “Tình hình bệnh võng mạc trẻ đẻ non tại TP Đà Nẵng”. Nghiên cứu được thực hiện tại phòng Nhi sơ sinh Bệnh viện Đà Nẵng vào ngày thứ hai hàng tuần; khoa nhãn nhi Bệnh viện Mắt Đà Nẵng vào ngày thứ tư hàng tuần. Có 205 bệnh nhi đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu là trẻ sinh non nhẹ cân còn sống có tuổi thai < 34 tuần và / hoặc cân nặng < 1900gam. Đối tượng nghiên cứu được chọn là trẻ sinh non có cân nặng và tuổi thai lớn hơn nhưng ngạt nặng khi sinh, nhiễm trùng, thở oxy kéo dài.

BS.Nguyễn Quốc Đạt báo cáo, trong 209 bệnh nhi đẻ non, 418 mắt được khám; khám võng mạc theo phân loại quốc tế có 5 giai đoạn: giai đoạn 1 có đường giới hạn; giai đoạn 2 có sợi mạch; giai đoạn 3 tăng sinh sợi mạch ngoài võng mạc; giai đoạn 4 bong võng mạc một phần; giai đoạn 4A khi bong võng mạc chưa đến hoàng điểm; giai đoạn 4B khi bong võng mạc cả vùng hoàng điểm; giai đoạn 5 khi bong võng mạc toàn bộ.
BS.Đạt phân tích, tỷ lệ trẻ có bệnh ROP/ trẻ đẻ non trong nghiên cứu là 30/209 trẻ, đạt tỷ lệ 14,3%. Số lượng trẻ cân nặng nhỏ hơn 1000 gam được khám đều có bệnh. Đối với trẻ có cân nặng 1000 gam đến 1500 gam số lượng mắc bệnh cao: 17/46 (36%). Tổng số trẻ cần điều trị đều thuộc nhóm này 5/5 (100%). Tác giả nghiên cứu cho biết những trẻ có cân nặng càng nhỏ, tuổi thai càng thấp tỷ lệ mắc bệnh ROP càng nhiều; có trường hợp trẻ có tuổi thai lớn hơn 33 tuần cần phải điều trị. Tỷ lệ số bệnh nhi được khám có tuổi thai > 33 tuần là 55,5%.
BS.Đạt chia sẻ, trong thời gian nghiên cứu, với số lượng khám 209 bệnh nhi, chắc chắn là không hết số bệnh nhi đẻ non mà trong tiêu chuẩn cần khám tầm soát, thực tế con số cần được khám lớn hơn nhiều. Một thực tế là người dân chưa biết bệnh ROP, cán bộ y tế cũng chưa có nhiều thông tin về bệnh nên những trẻ có bệnh, không được phát hiện và điều trị kịp thời. Trong thực tế tại Bệnh viện Mắt Đà Nẵng, có những trẻ 7-8 tháng tuổi đến khám đã bị bong võng mạc toàn bộ.
Tác giả nghiên cứu cũng có nhận xét, trẻ có cân nặng dưới 1000gam, tuổi thai dưới 28 tuần được khám trong nghiên cứu thấp; điều này do chế độ chăm sóc sơ sinh còn hạn chế, thiếu những trang thiết bị và thuốc điều trị; trẻ ở tình trạng này được cứu sống ít. Đối với trẻ có tuổi thai trên 28 tuần có tiên lượng điều trị laser tốt, hầu hết thoát khỏi nguy cơ mù lòa. Trong nghiên cứu có 22 bệnh nhi có cân nặng khi sinh nhỏ hơn 1500gam, có tuổi thai dưới 32 tuần; số bệnh nhi có tuổi thai lớn hơn 33 tuần chiếm 57,9%; trẻ có trọng lượng hơn 1900gam chiếm gần 29%.
Tác giả nghiên cứu cho biết những bệnh nhi có tuổi thai trên 33 tuần chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm còn lại, do trẻ được bác sĩ sơ sinh cho chỉ định khám mắt; gia đình trẻ lo lắng đưa trẻ đến khám. Có 30 bệnh nhi mắc bệnh ROP, 05 trẻ được chỉ định tại TP Hồ Chí Minh; có 04 trẻ do không có điều kiện nên bệnh viện tiếp tục theo dõi đến 45-50 tuần tuổi. Một đặc điểm là những trẻ cần điều trị ROP hầu hết có cân nặng thấp và là các cặp sinh đôi. BS.Đạt khuyến cáo cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho cộng đồng hiểu rõ hơn về tầm quan trọng khám mắt cho tất cả các trẻ đẻ non có cân nặng < 1900 gam và những trẻ có tuổi thai < 34 tuần. Tại bệnh viện cần có sự phối hợp tốt giữa khoa Mắt- khoa Sản- Nhi sơ sinh và các Trung tâm Y tế, cơ sở hộ sinh.
Mai Trang