Phẫu thuật phaco với vết mổ nhỏ mang lại kết quả tốt đẹp cho người bệnh đục thể thủy tinh.
Theo các chuyên gia nhãn khoa, bên cạnh sự đổi mới về chất liệu nhằm tránh sự bất tương thích sinh học với mô mắt; sự thay đổi liên tục về thiết kế kính nội nhãn đã giúp cho thị giác sau phẫu thuật tốt hơn. Đối với người làm việc văn phòng, tuổi trung niên có nhu cầu nhìn rõ ở nhiều cự ly thì ngoài việc monovision, đeo kính gọng điều chỉnh, nay cần các loại kính nội nhãn đa tiêu cự khi họ bị đục thủy tinh thể.

Ngày nay, lĩnh vực phẫu thuật trong nhãn khoa đã song hành với nhau là phẫu thuật khúc xạ và phẫu thuật thủy tinh thể. Trong phẫu thuật thủy tinh thể phải hướng tới khắc phục tật khúc xạ và luôn quan tâm tới thị giác hai mắt, đây là yêu cầu về chất lượng sự nhìn của người bệnh. Phẫu thuật khúc xạ hiện nay đối với những trường hợp lão thị, cận thị nặng có thể lựa chọn phương pháp thay thế thủy tinh thể và đặt kính nội nhãn đa tiêu cự. Kính đa tiêu cự khúc xạ hoặc nhiễu xạ, hoặc phối hợp khúc xạ - nhiễu xạ.
Từ tháng 6/2011 đến tháng 11/2011, BS.Nguyễn Quốc Đạt cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Đà Nẵng thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả sử dụng kính nội nhãn đa tiêu trong phẫu thuật phaco tại Bệnh viện Mắt Đà Nẵng”. Đối tượng nghiên cứu có 126 mắt của 63 bệnh nhân được phẫu thuật cả hai mắt tại Khoa kỹ thuật phaco Bệnh viện Mắt Đà Nẵng. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đục thủy tinh thể cả hai, có chỉ định phẫu thuật phaco, cách nhau trong vòng 2 tháng, tuổi từ 20-60.
Tác giả nghiên cứu sử dụng máy phẫu thuật Phaco Infinity, sử dụng chế độ pluse, burst. Dao mổ Alcon 2,2mm; kính hiển vi phẫu thuật OMS 800; máy Java đo công suất giác mạc, máy siêu âm A đo trục nhãn cầu, siêu âm B quan sát bệnh lý phần sau. BS.Đạt mô tả kỹ thuật thực hiện, chọc thủng giác mạc phía thái dương, bơm chất nhầy vào tiền phòng, xé bao trước hình tròn liên tục, thủy tách tổ chức dưới bao, xoay nhân, đào đường rãnh ngang giữa, tách đôi nhân, chẻ và hút từng mảnh nhân. Rửa lớp vỏ nhân, đánh bóng bao sau và đặt kính nội nhãn Acry Sof Restor, tái tạo tiền phòng bằng Ringerlactate.

Kính nội nhãn Acry Sof Restor là kính đa tiêu phối hợp cả hai nguyên lý khúc xạ và nhiễu xạ, gồm 11 bậc ở vùng trung tâm 3,6mm; tạo thành 12 vùng nhiễu xạ với độ cao các bậc khác nhau, giảm dần từ trung tâm ra ngoại biên, từ 1,3µm đến 0,2µm; khoảng cách giữa các bậc cũng giảm dần, thiết kế này tạo ra công suất hiệu dụng thêm vào +4D; tương ứng với +3,2D đeo kính gọng; ánh sáng đi vào vùng ngoại biên, thị lực nhìn xa hơn, giảm được khó chịu cho người bệnh lúc ban đêm.
Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân trẻ; hầu hết làm việc công sở, chưa đến tuổi thoái hóa võng mạc hay các bệnh lý thoái hóa khác do tuổi già. Nghiên cứu không mời những đối tượng có bệnh lý võng mạc đái tháo đường, tăng huyết áp, thoái hóa hắc võng mạc nặng, cận viễn thị nặng. Thị lực sau mổ tốt, BS.Đạt cho rằng kính nội nhãn Acry Sof Restor đắt tiền, chưa phổ biến rộng rãi cho nhiều bệnh nhân, số phẫu thuật viên đặt kính này cũng còn ít.
Khi không chỉnh kính, thị lực nhìn xa và nhìn gần đều rất tốt. Trong ngày đầu có những mắt chỉ đạt thị lực dưới 3/10 do nhóm nghiên cứu phải duy trì tiền phòng bằng hơi chưa tan kịp. Áp lực nội nhãn ở người trẻ thường phục hồi nhanh nên xẹp tiền phòng có thể gặp.
BS.Đạt cho biết, độ nhạy tương phản có giá trị rất lớn về thị giác, dù có thị lực rất cao nhưng xảy ra hiện tượng lóe sáng sẽ làm cho bệnh nhân than phiền, nhất là lái xe ban đêm. Trong nghiên cứu có 8 bệnh nhân có cảm giác này nhưng ở mức độ nhẹ, mắt kia không bị lóe. Sau 1 tháng phẫu thuật, 8 mắt này giảm dần hiện tượng lóe sáng khi nhìn ngọn đèn, phản xạ đồng tử phục hồi tốt. Có 8 mắt cảm thấy chói sáng nhưng không thuộc trên cùng bệnh nhân nên khi sử dụng cả 2 mắt thì bệnh nhân không thấy khó chịu, nhìn ánh đèn ban đêm có vòng tán sắc xung quanh nhưng mức độ nhẹ.
Tác giả nghiên cứu cho biết, do nhóm nghiên cứu có tay nghề quen sử dụng hệ thống máy Infinity Alcon, chọn lựa kỹ bệnh nhân không có bệnh kèm ở mắt; cho dùng thuốc chống viêm 5-7 ngày trước phẫu thuật nên biến chứng gặp rất ít. Những mắt có phù giác mạc tự hồi phục sau 2-3 ngày. Đối với kính nội nhãn đa tiêu việc bảo tồn mống mắt khỏi phẫu chấn là hết sức quan trọng. Những trường hợp đồng tử không đáp ứng thuốc nhỏ giãn trước phẫu thuật nhóm nghiên cứu không mời tham gia nghiên cứu.
BS.Đạt chia sẻ, tất cả bệnh nhân đều hài lòng với kết quả phẫu thuật; khộng cần sử dụng kính hỗ trợ thêm cho công việc. Tỷ lệ không cần kính đeo hỗ trợ nhìn gần trong nghiên cứu là 116 bệnh nhân (92,1%). Có 10 bệnh nhân có nguyện vọng hỗ trợ kính nhìn gần với +0,5 + 0,75; không có bệnh nhân nào cần mang thêm kính độ âm; không có bệnh nhân cần sử dụng kính nhìn xa. Trong nghiên cứu không có đối tượng nào loạn thị trên 1 diop, vì vậy không ghi nhận trường hợp loạn thị sau mổ. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, để đạt được kết quả tốt của phẫu thuật kính nội nhãn, vấn đề chọn lựa bệnh nhân trước mổ và xác định công suất kính nội nhãn chính xác là rất quan trọng.
Hữu Lai