[Đăng ngày: 05/12/2017]
Dị hình vách ngăn là loại dị hình rất phổ biến của hốc mũi. Theo các chuyên gia Tai mũi họng, nguyên nhân gây dị hình vách ngăn là do bẩm sinh hoặc do chấn thương ngay từ trong bào thai, hoặc do tai nạn trong quá trình phát triển. Dị hình vách ngăn rất đa dạng về hình thái, bao gồm vẹo, lệch, mào, gai hoặc phối hợp với nhau.

Dị hình vách ngăn biểu hiện khác nhau ở mỗi người và mức độ dị hình. Hậu quả của dị hình vách ngăn thường gây ra hẹp hốc mũi bên dị hình, làm thay đổi động học của luồng khí lưu thông, cản trở thông khí, có thể là nguyên nhân hình thành điểm tiếp xúc giữa 2 mặt niêm mạc gây đau đầu mạn tính hoặc gây dị ứng thứ phát, có thể là nguyên nhân hoặc là yếu tố thuận lợi trong bệnh viêm mũi xoang hoặc gây viêm mũi xoang kéo dài.

Khi dị hình vách ngăn gây ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, khứu giác, dẫn lưu xoang thì mới được xem là dị hình vách ngăn cần phải điều trị. Chỉnh hình vách ngăn có nhiều kỹ thuật và phương pháp. Mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm riêng. Các kỹ thuật chỉnh hình vách ngăn ngày càng được cải tiến nhằm đạt được mục đích hạn chế tối đa tổn thương về giải phẫu, bảo tồn các chức năng sinh lý của mũi như chức năng thông khí, vận chuyển niêm dịch, cải thiện tình trạng viêm mũi xoang.

Theo BS Nguyễn Công Hoàng - Đại học Y Dược Thái Nguyên, nội soi chỉnh hình vách ngăn là một kỹ thuật phổ biến hiện nay; có nhiều cải tiến kỹ thuật, sử dụng phương tiện mới đạt nhiều thành công đáng kể. Từ tháng 01/2016 đến tháng 8/2016, BS Nguyễn Công Hoàng cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu tiến cứu mô tả từng trường hợp có can thiệp báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả kỹ thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn mũi tại khoa Tai Mũi Họng, bệnh viện Trung ương Thái Nguyên”. Đối tượng nghiên cứu là 48 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn mũi, bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên; được phẫu thuật nội soi chỉnh hình vách ngăn, theo dõi đánh giá sau 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng phẫu thuật.

BS Hoàng báo cáo, trong 48 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, nam chiếm tỷ lệ 71%, nữ chiếm tỷ lệ 29%. Đối tượng nghiên cứu nhóm 16 – 30 tuổi chiếm tỷ lệ cao 57,4%; nhóm 31 – 40 tuổi chiếm 26,2%. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 29,8. Bệnh nhân nhỏ nhất là 16 tuổi, lớn nhất là 55 tuổi.

Về triệu chứng cơ năng, thường gặp nhất là ngạt mũi 100%; chảy mũi là 100%; hắt hơi 80%; đau đầu 66%; ngửi kém 14,6%. Về hình thái dị hình vách ngăn, mào vách ngăn là dị hình hay gặp với 44%; gai vách ngăn chiếm 35%; lệch vách ngăn, vẹo vách ngăn và dày chân vách ngăn cùng có tỷ lệ 7%. BS Hoàng nhận xét, dị hình vách ngăn là yếu tố thuận lợi gây nên viêm mũi xoang với vai trò gây hẹp phức hợp lỗ ngách, làm cản trở sự thông khí và dẫn lưu niêm dịch trong các xoang dẫn đến viêm mũi xoang. Về vị trí dị hình vách ngăn theo Cottle, gặp nhiều ở vùng 4, 5 với tỷ lệ 84%.

BS Hoàng cho biết, sau phẫu thuật 1 tháng, các triệu chứng cơ năng của đối tượng nghiên cứu đều được cải thiện hết hoặc giảm. Ngạt mũi có 4/48 bệnh nhân; chảy mũi có 6/48 bệnh nhân; hắt hơi có 6/48 bệnh nhân; đau đầu có 3/48 bệnh nhân; ngửi kém có 1 bệnh nhân.

Về phục hình giải phẫu vách ngăn, tất cả đối tượng nghiên cứu vách ngăn thẳng và phẳng, bảo tồn được tối đa cấu trúc vách ngăn, không có di chứng. Về tai biến sau mổ, có 1 trường hợp chảy máu sau rút merocell phải nhét mech tăng cường. Đây là nguyên nhân gây dính cuốn sau phẫu thuật. Tác giả nghiên cứu cho rằng sử dụng phương pháp nội soi chỉnh hình vách ngăn cho kết quả khả quan, nên được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế.

Mũi là phần đầu tiên của bộ phận hô hấp có nhiệm vụ dẫn khí, sưởi ấm và làm sạch luồng không khí đi qua; mũi là cơ quan dùng để ngửi. Mũi còn tham gia vào việc phát âm và các xoang xương đổ vào mũi là các hòm cộng hưởng âm thanh. Giải phẫu có 2 hố mũi, ngăn cách nhau ở giữa bởi vách mũi giữa, mỗi hố mũi có 4 thành và 2 lỗ mũi trước, sau. Mũi được lót một lớp niêm mạc. Niêm mạc mũi liên tiếp với niêm mạc lót mặt trong các xoang.

Không khí được sưởi ấm, làm ẩm và lọc sạch trước khi vào phổi. Màng biểu mô mũi có chức năng lọc và thanh toán các dị vật có đường kính lớn trên 15mm. Các hạt từ 1mm và bé hơn có 5% bị giữ lại ở màng nhầy. Các dị vật này được màng nhầy chuyển ra cửa mũi sau. Nhờ sự hoạt động hiệu quả, các khoang phụ của mũi trở nên vô trùng. Hàng rào đầu tiên và khó vượt qua nhất đối với vi khuẩn là bề mặt nguyên vẹn của niêm mạc và lớp màng nhầy bao phủ trên bề mặt của nó. Nhiễm khuẩn xảy ra khi các vi khuẩn có độc tố cao đủ khả năng gây thương tổn vượt qua được hàng rào niêm mạc. Phần lớn vi khuẩn có kích thước lớn bị giữ lại ở lớp màng nhầy đường hô hấp trên rồi bị đẩy ra ngoài. Hệ thống làm sạch này bị yếu đi khi hút thuốc lá, bệnh viêm mũi mạn tính (niêm mạc mũi xơ hóa, teo đét, quá phát, hít phải dịch dạ dày trào ngược, sự tấn công của vi rút, chấn thương do đặt nội khí quản). Bệnh học của tai mũi họng và xoang thực chất là bệnh học của niêm mạc.
Hữu Cao
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 377

Số lượt truy cập: 9357200

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang