Theo các bác sĩ ngoại khoa, phẫu thuật nội soi là một tiến bộ trong ngoại khoa hiện đại mang lại nhiều lợi ích cho cả bệnh nhân và phẫu thuật viên.

Với phẫu thuật nội soi 2D, phẫu thuật viên bị hạn chế bởi trường nhìn không có chiều sâu nên hạn chế sự khéo léo trong phẫu tích và khâu nối trong ổ bụng. Năm 1993 phẫu thuật nội soi 3D được ứng dụng lần đầu tiên; mở ra một triển vọng mới trong ngoại khoa với trường nhìn không gian 3 chiều tạo thuận lợi cho phẫu tích tỉ mỉ hơn, làm tăng độ chính xác của các động tác mổ nội soi 3 D trong phẫu thuật ung thư vẫn đang ở giai đoạn đầu, có ưu điểm là cảm nhận độ sâu trong trường nhìn giúp nạo vét hạch dễ dàng hơn, phẫu tích cầm máu tốt hơn, tôn trọng tổ chức lành, bảo tồn thần kinh tốt hơn khi phẫu tích khối u. Phẫu thuật nội soi 3D là cầu nối giữa phẫu thuật nội soi 2D và Rôbốt Davinci. Bên cạnh của phương pháp, phẫu thuật nội soi 3D có nhược điểm làm phẫu thuật viên mỏi mắt, hoa mắt, chóng mặt, có thể buồn nôn, đau đầu do sự điều tiết mắt với video 3D.
Từ tháng 3/2016 đến tháng 1/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Văn Bình cùng cộng sự Bệnh viện K Hà Nội nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Kinh nghiệm bước đầu ứng dụng phẫu thuật nội soi 3D điều trị ung thư đại trực tràng”. Đối tượng nghiên cứu là 46 bệnh nhân ung thư đại trực tràng được mổ nội soi 3D được mời tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh qua lâm sàng, nội soi ống mềm đại trực tràng, kết quả giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô tuyến. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt đoạn đại trực tràng và nối đại trực tràng hoặc cắt cụt trực tràng bằng phẫu thuật nội soi 3D.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, có 25 bệnh nhân nam, 21 bệnh nhân nữ; tuổi trung bình 61, trường hợp nhỏ nhất là 53 tuổi, lớn nhất là 72 tuổi. Vị trí ung thư, đại tràng phải 11 ca; đại tràng trái 15 ca; trực tràng 20ca. Cách thức mổ cắt đoạn 36 ca; cắt cụt trực tràng 10 ca; kích thước khối u trung bình 5,2 cm; ung thư giai đoạn 2 19 ca; giai đoạn 3 là 27 ca. Thời gian mổ trung bình là 125,6 phút; lượng máu mất trong mổ 50,4 ml; có 2,1% chỉ mổ mở. Có trung bình 12,4 hạch được nạo vét. Sau mổ trung bình 3 ngày bệnh nhân trung tiện được. Thời gian trung bình nằm viện sau mổ 7 ngày; không có trường hợp nào gặp tai biến.
BS. Phạm Văn Bình cho biết, mặc dù phẫu thuật nội soi được ứng dụng mổ ung thư đại trực tràng từ năm 1990, nhưng để công nhận là phương pháp an toàn về mặt ung thư học phải trải qua quá trình dài. Một lý do là phương pháp phẫu thuật nội soi 2D thiếu cảm nhận chiều sâu, không có định hướng không gian 3 chiều. Năm 1992, phẫu thuật nội soi 3D được ứng dụng mổ cắt túi mật, phương pháp cho thấy ưu điểm trong việc phẫu tích, giải phóng các tổ chức khối u nhất là trong các khoang phẫu tích hẹp như tiểu khung, tạo thuận lợi khi khâu ống tiêu hóa.
Tác giả Wenzl nghiên cứu thế hệ thứ nhất video 3D cho thấy giúp phẫu thuật viên mổ chính xác hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và an toàn so với phẫu thuật nội soi 2D. Ở thời kỳ đầu do hình ảnh không nét, độ sáng kém nên phẫu thuật viên thường mỏi mắt, căng thẳng thần kinh hơn nên dễ mệt mỏi. Ngày nay thế hệ video 3D đạt tới độ phân giải rất cao nên đã giúp phẫu thuật viên mổ chính xác và an toàn hơn.
Trong nghiên cứu, tác giả thực hiện hệ thống phẫu thuật nội soi 3D của hãng Karl Storz thế hệ mới nhất; có độ nét cao. Theo tác giả nghiên cứu, các nghiên cứu trên thế giới so sánh giữa phẫu thuật nội soi 2D và 3D về thời gian mổ, độ chính xác khi phẫu tích, tác dụng phụ, nhận thức khối lượng công việc. Kết quả cho thấy thời gian mổ khi dùng 3D ngắn hơn so với 2D. Thường mổ 2D có thời gian trung bình là 152 phút, mổ 3D là 115,6 phút. Về độ chính xác trong các động tác mổ nội soi 3D tốt hơn 2D, tỷ lệ tai biến trong mổ là 0%, không có trường hợp nào chảy máu sau mổ, rò miệng nối, lượng máu mất trong mổ là 50,4ml. Trường hợp phải chuyển mổ hở do đánh giá trong mổ u đã xâm lấn ra tổ chức xung quanh (T4).
Đối với phẫu thuật viện, trong mổ nội soi 3D có 8/31 nghiên cứu báo cáo là chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn, mỏi mắt và mệt mỏi. Tuy nhiên, tỷ lệ các dấu hiệu này giảm dần theo thời gian khi phẫu thuật nhiều hơn, thế hệ các video 3D mới có độ phân giải tốt hơn trước đây. Trong nghiên cứu, 7 trường hợp mổ đầu tiên, phẫu thuật viên cũng mỏi mắt, chóng mặt hơn so với cuộc mổ sử dụng 2D. Mặt ưu điểm quan trọng nhất là cảm nhận trường mổ bằng không gian 3 chiều; cảm nhận chiều sâu, đây là chìa khóa tạo nên sự khác biệt trong hiệu suất công việc phẫu thuật nội soi. Trong phẫu thuật ung thư đại trực tràng, giúp thuận lợi nạo vét hạch nhanh hơn, khâu nối ống tiêu hóa hay phẫu tích tổ chức ung thư hiệu quả hơn. Trong nghiên cứu số lượng hạch nạo vét trung bình là 12,4 đáp ứng được tiêu chuẩn đánh giá giai đoạn ung thư sau mổ; việc khâu thắt chỉ trong mổ nội soi 3D rất thuận lợi và dễ dàng hơn nhiều so với 2D.
Hồng Sơn