
Gãy Galeazzi là gãy 1/3 dưới xương quay và bán trật hoặc trật khớp quay trụ dưới. Mục đích điều trị là hồi phục tốt giải phẫu xương quay từ đó phục hồi trục xoay đảm bảo biên độ sấp ngửa cẳng tay sau này và làm vững khớp, ngăn chặn tái trật khớp, thoái hóa khớp, yếu khớp ảnh hưởng tới chức năng cổ bàn tay.
Điều trị hiện nay có 2 phương pháp là bảo tồn và phẫu thuật. Phương pháp điều trị bảo tồn chấp nhận một số di lệch còn sót lại sau khi kéo nắn do đó dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề như 1/3 dưới cẳng tay biến dạng, gập góc, đầu dưới xương trụ nhô ra sau, còn trật hoặc bán trật khớp quay trụ dưới, giảm biên độ sấp ngửa cổ tay, đau khớp cổ tay…Xu hướng trên thế giới hiện nay là điều trị phẫu thuật.
Từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2014 nhóm nghiên cứu Vũ Minh Hải, Nguyễn Minh Châu Đại học Y Dược Thái Bình đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết quả điều trị phẫu thuật gãy Galeazzi”.
Theo tác giả nghiên cứu, đánh giá kết quả điều trị dựa theo Harkess (1966) và Green and O’Brien (1995), bao gồm các chỉ tiêu: đau ổ gãy (xương, khớp), chức năng cổ bàn tay; vững chắc khớp quay trụ dưới; biên độ sấp ngửa cổ tay và phục hồi giải phẫu. Kết quả tốt 91-100 điểm; khá 80-90 điểm; đạt 70-79 điểm; xấu < 70 điểm, cụ thể như sau: về độ đau: không đau: 20 điểm; đau nhẹ, thỉnh thoảng: 15 điểm; đau trung bình, chịu được: 10 điểm; đau nhiều, chịu được: 5 điểm; đau nhiều, không chịu được: 0 điểm. Về chức năng: trở về công việc hàng ngày: 20 điểm; hạn chế làm việc: 15 điểm; làm được nhưng thất nghiệp: 10 điểm; không làm được phải thất nghiệp: 5 điểm; tàn phế: 0 điểm. Về độ vững chắc xương, khớp: tốt: 20 điểm; khá: 15 điểm; đạt: 10 điểm; xấu: 5 điểm; rất xấu: 0 điểm. Ở đây phải tính bệnh nhân lao động nặng được, nếu là vận động viên thì phải thi đấu trở lại tốt, khéo léo hoặc trở về nghề cũ. Về biên độ cử động cẳng tay, cổ tay (sấp ngửa) 1400 - 1800: 20 điểm; 1000 - 1400: 15 điểm; 600 – 1000: 10 điểm; 300 – 600: 5 điểm; 00 – 300: 0 điểm. Về độ phục hồi giải phẫu xương, khớp (xương quay và khớp quay trụ dưới), xương quay thẳng (không ngắn): 20 điểm; xương quay gập góc: 30, ngắn 2mm: 15 điểm; xương quay gập góc 60, ngắn 4mm: 10 điểm; xương quay gập góc 90, ngắn 6mm: 5 điểm; xương quay gập góc >100, ngắn 10mm: 0 điểm.
Báo cáo nghiên cứu cho thấy có 57 bệnh nhân (43 nam, 14 nữ) gãy Galeazzi được điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức trong thời gian từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2014 với thời gian theo dõi sau mổ từ 3 tháng tới 3 năm, tỷ lệ nam/nữ là 3/1; nguyên nhân tai nạn giao thông chiếm 78,9% (trong đó tai nạn liên quan tới xe máy 67,2%), tai nạn sinh hoạt 21,1%.
Các đối tượng nghiên cứu được phẫu thuật dưới 1 tuần khi bị chấn thương chiếm 75,4%; 1-4 tuần là 10,5%; 5-8 tuần là 8.8%; 9-12 tuần là 5,3%. Như vậy số bệnh nhân đã được điều trị bảo tồn sau 1 tuần mới đến viện chiếm 24,6%.
Đa số bệnh nhân được sử dụng nẹp vít trong điều trị kết hợp xương quay chiếm 100% trong đó sử dụng nẹp AO 6 lỗ chiếm 87,7%. Chỉ có 4 trường hợp được găm kim khớp quay trụ kết hợp với nẹp vít xương quay.
Đối tượng nghiên cứu được chẩn đoán là gãy Galeazzi được chú ý đến khớp quay trụ dưới như nắn khớp quay trụ chiếm 63,1%, găm kim quay trụ dưới chiếm 7,0%. Nhưng vẫn còn 28,1% là không quan tâm đến khớp quay trụ dưới sau kết hợp xương quay.
Sau mổ ít nhất 3 tháng số bệnh nhân cảm nhận thấy không đau chiếm 77,2%; đau nhẹ và đau trung bình chiếm 21,1%; có 1 trường hợp đau nhiều nhưng chịu được và không có trường hợp nào đau không chịu được. Một số bệnh nhân cảm thấy đau có thể do phức hợp khớp quay trụ dưới không hồi phục hoàn toàn và gặp nhiều ở bệnh nhân đến sau 4 tuần.
Về đánh giá biên độ sấp ngửa cẳng tay, trong 57 bệnh nhân được khám lại có 80,7% có biên độ sấp ngửa tốt, 15,8% có biên độ sấp ngửa trung bình và 3,5% có biên độ hạn chế.
Khả năng làm nặng của bệnh nhân đạt kết quả tốt là 66,7%; trung bình là 12,3%; hạn chế là 3,5% và có 17,5% bệnh nhân chưa dám làm nặng.
Số bệnh nhân trở lại công việc ban đầu sau phẫu thuật chiếm 80,7%; hạn chế trong công việc chiếm 19,3% và không có trường hợp nào phải thay đổi công việc và tàn phế. Về biến chứng sau mổ: không gặp các biến chứng như nhiễm trùng, khớp giả nhưng có gặp gãy nẹp sau phẫu thuật 1/57 (1,3%).
Theo tác giả nghiên cứu, sở dĩ không có biến chứng vì bệnh nhân đến mổ đều là những cuộc mổ có sự chuẩn bị tốt, trang thiết bị đầy đủ, phẫu thuật viên chuyên khoa; đối với trường hợp gãy nẹp vít sau mổ 3 tháng sau một tai nạn có thể sau 3 tháng sự hỗ trợ của nẹp xương vẫn chưa thật sự can chắc. Có một số nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới có những biến chứng đã gặp phải như khớp giả, nhiễm trùng, liền xấu, gãy lại sau mổ tháo nẹp vít, tổn thương thần kinh, không vững khớp quay trụ dưới.
BS Vũ Minh Hải đã có kết luận cho nghiên cứu là phẫu thuật điều trị gãy Galeazzi mang lại hiệu quả cao, ít biến chứng./.
Trần Hưng