[Đăng ngày: 20/06/2016]
Bệnh Wilson là một rối loạn chuyển hóa đồng được Wilson phát hiện năm 1912. Bệnh có biểu hiện chính là tổn thương thần kinh kèm xơ gan.
Bệnh Wilson là bệnh hiếm gặp, độ lưu hành trên thế giới 12-29 ca/triệu dân, tần suất mới mắc từ 1:30000-1:50000 với tỷ lệ người lành mang gen bệnh là 1:100. Nếu không được điều trị bệnh nhân chắc chắn tử vong hoặc tàn tật, tuy nhiên đây là một trong những bệnh gan có thể điều trị được thậm chí khi xơ gan đã ở giai đoạn trễ. Tuy hiếm gặp nhưng bệnh Wilson là bệnh gan di truyền thường gặp nhất. Bệnh di truyền theo tính lặn do đột biến gen ATP7B nằm trên nhiễm sắc thể 13. Gen biểu hiện tình trạng chủ yếu ở gan và ít hơn ở thận, não, nhau thai. Gen ATP7B dài 80kb, có 21 exon, mã hóa men ATPase type P, một loại protein có chiều dài 1465 acid amin có chức năng vận chuyển đồng trong tế bào. Men ATP7B nằm xuyên màng trong tế bào, có chức năng gắn kết đồng vào apoceruloplasmin tạo ra holoceruloplasmin (là một loại ferroxidase) cũng như thải đồng ra mật khi cơ thể có tình trạng dư đồng. Gen ATB7B bị đột biến tạo ra men ATP7B không còn chức năng hoàn chỉnh làm đồng không thể thải ra ngoài qua mật, bị tích tụ tại gan sau đó lắng đọng ở các cơ quan và mô khác, thường nhất là não, mắt và hồng cầu, gây ra các biểu hiện bệnh tương ứng. Đồng thời do không tổng hợp được holoceruloplasmin nên bệnh nhân Wilson có thể bị ứ sắt, làm nặng thêm tình trạng bệnh. Cho đến nay đã có hơn 500 loại đột biến gen bệnh Wilson đã được mô tả ở châu Âu, Mỹ, châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ).
Từ năm 2005-2012, tác giả Hoàng Lê Phúc cùng cộng sự Bệnh viện Nhi đồng 1 TP Hồ Chí Minh đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Bệnh Wilson ở trẻ em Việt Nam phân tích đột biến phân tử gen ATP7B”.
Có 36 bệnh nhi ở 22 tỉnh, thành phố đủ điều kiện được mời tham gia nghiên cứu. Bệnh Wilson được chẩn đoán dựa theo thang điểm Ferenci. Mỗi bệnh nhi được lấy 5cc máu đựng trong ống EDTA và giữ ở nhiệt độ phòng cho đến khi được phân tích tại Bệnh viện Đại học Viên, Áo. Phân tích đột biến phân tử gen ATP7B được làm tuần tự theo các bước đã được mô tả trong nghiên cứu trước. Nếu qua tầm soát các đột biến thường gặp H1069Q ở châu Âu không phát hiện được đồng hợp tử, DNA ly trích từ các mẫu máu sẽ được giải trình tự trực tiếp các exon 4-21. Một số bệnh nhi không phát hiện được đủ 2 đột biến trên các exon này sẽ được giải trình tự trực tiếp các exon còn lại và vùng promoter ở Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.
Theo phân tích của tác giả Hoàng Lê Phúc, 21 dạng đột biến được phát hiện không có đột biến nào có tỷ lệ chiếm ưu thế rõ rệt, đặc biệt phần lớn đột biến chỉ xảy ra 1 lần cho thấy tính đa dạng về kiểu gen cũng như kiểu hình của bệnh này thể hiện rất rõ ở người Việt.
Trong nghiên cứu, đột biến D1027H là một đột biến thường gặp. Tuy nhiên tác giả nghiên cứu chưa thể xác định cơ chế gây bệnh của đột biến mới D1027H nhưng khả năng nó là đột biến gây bệnh rất cao. Điều đáng chú ý là đột biến này chỉ tìm thấy ở các bé dân tộc K’Ho, Choro, Raglai với dân số khoảng 50.000 ngàn người. Đối với 4 đột biến mới khác, chưa được y văn mô tả trước đây là P868P-fs (del C), L902P, 1333delC, và IVS20+3:A>G.
Đối với đột biến T8501 ở hai anh em trai có biểu hiện quá tải đồng rất sớm từ 12 tháng tuổi, có 47,2% bệnh nhân trong nghiên cứu chỉ phát hiện được 1 đột biến. Cùng với 8,2% không phát hiện được đột biến nào cho thấy việc xác định đột biến trên bệnh nhi Wilson rất khó khăn.
Các yếu tố lý giải cho việc không tìm thấy đột biến có thể là do đứt đoạn toàn bộ exon, mất hoặc nhân đôi toàn bộ gen, đột biến vùng intron xa điểm ghép nối (splicing) của exon, đột biến gen điều hòa hoặc còn một gen khác tham dự vào cơ chế bệnh Wilson. Các exon bị đột biến trong nghiên cứu này khá đa dạng vào phân bố tương đối đều nên không tìm thấy exon bị tổn thương nổi trội. Bốn exon bị tổn thương nhiều nhất (14 (11,1%), 18 (9,7%), 8 (8,3%) và 2 (6,9%)) chiếm 36,1% tổng số nhiễm sắc thể khảo sát tức là 53,1% (26/49) số nhiễm sắc thể tìm thấy đột biến.
Tác giả Hoàng Lê Phúc đã có kết luận đột biến gen ATP7B ở bệnh nhi Wilson Việt Nam rất đa dạng. Các đột biến này tương tự các nghiên cứu của châu Á, Mỹ và châu Âu tuy nhiên tỷ lệ phân bố biến rất khác. 5 đột biến mới được phát hiện góp phần làm tăng tính đa dạng theo vùng của bệnh này. Tác giả cũng khuyến nghị là cần tầm soát đột biến D1027H (cho bệnh nhân người dân tộc ít người), R778L, P1273Q, T850I, S105X trước khi giải trình tự trực tiếp và tập trung phân tích các exon đã nêu đặc biệt exon 18, 8, 2 và 14 (cho bệnh nhân người dân tộc ít người)./.
Anh Huy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 111

Số lượt truy cập: 9368416

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang