
Rung nhĩ là một loạn nhịp dai dẳng thường gặp nhất trong cộng đồng, tần suất rung nhĩ tăng dần theo tuổi, đặc biệt là từ 55 tuổi trở đi và đạt đến 10% ở những người trên 80 tuổi.
Hai nguy cơ chính của rung nhĩ là thuyên tắc mạch hệ thống và tử vong. Tỷ lệ đột quỵ và tử vong do mọi nguyên nhân của bệnh nhân rung nhĩ đều cao hơn so với bệnh nhân nhịp xoang. Trước đây, chúng ta chỉ quan tâm đến đột quỵ liên quan với rung nhĩ ở bệnh nhân hẹp van 2 lá do hậu thấp, tuy nhiên hiện nay nhiều nghiên cứu đã cho thấy rung nhĩ không có bệnh van tim cũng làm tăng đáng kể nguy cơ đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống nói chung. Nhưng vấn đề điều trị rung nhĩ không do bệnh van tim chưa được quan tâm đúng mức nên khi xảy ra biến chứng để lại hậu quả nặng nề.
Không phải mọi bệnh nhân rung nhĩ đều cần phải điều trị, việc điều trị quá tích cực sẽ không mang lại lợi ích mà ngược lại sẽ gây biến chứng nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân nguy cơ thấp. Chính vì vậy sự cần thiết phải đánh giá bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ nào để có chiến lược sử dụng kháng đông có hiệu quả nhằm mang lại hiệu quả về dự phòng biến chứng của rung nhĩ không do bệnh van tim, và thấy được vai trò của các yếu tố nguy cơ này trong vấn đề tắc mạch để có thể kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ này.
Hướng dẫn AHA/ACC năm 2010 đưa ra thang điểm CHA2DS2-VASc, theo đó việc phân tầng nguy cơ cũng như chỉ định điều trị chống đông cho những bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim được thực hiện theo thang điểm này.
Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý tim mạch đang ngày càng gia tăng rõ rệt, nhiều trường hợp bệnh nhân có kèm theo rung nhĩ đã gây những khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Việc chẩn đoán và chiến lược điều trị rung nhĩ cần phải được thống nhất để giảm thiểu tối đa biến chứng của rung nhĩ, đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho bệnh nhân.
Từ tháng 1-10/2015, BS. Trần Thị Bảo Ngọc đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đánh giá nguy cơ tắc mạch bằng thang điểm CHA 2DS2- VASc ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim tại khoa nội Bệnh viện Ninh Hòa”.
Qua phân tích kết quả nghiên cứu, có 57 bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận cụ thể: tuổi trong nhóm nghiên cứu cao nhất là 95 tuổi, thấp nhất là 35 tuổi, tuổi trung bình 73.3, trong đó nhóm từ 75 tuổi trở lên chiếm đa số (61,4%). Giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao hơn (59,6%) so với nam (40,4%). Các yếu tố nguy cơ lần lượt là suy tim (82,5%), tăng huyết áp (54,4%), bệnh mạch máu (22,8%). Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất là hồi hộp (91,2%), tiếp theo là khó thở (52,6%).
Điểm CHA 2DS2- VASc trung bình 3.98, điểm cao nhất là 8, thấp nhất là 0, điểm chiếm tỉ lệ nhiều nhất là 5 (22,8%).
Không có trường hợp nào được sử dụng kháng đông mặc dù nhóm bệnh nhân nguy cơ cao chiếm 87,8%; tỷ lệ sử dụng Aspirin khá cao (89,5%). Nguy cơ tắc mạch ở những người rung nhĩ liên quan đến tăng huyết áp, suy tim, đột quỵ, tuổi trên 65 và nữ giới.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lâm sàng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân có hay không có đột quỵ.
Điểm CHA 2DS2-VASc trung bình ở nhóm rung nhĩ có đột quỵ cao hơn nhóm không có đột quỵ
BS.Trần Thị Bảo Ngọc đã đưa ra một số khuyến nghị như bệnh nhân rung nhĩ nên được đánh giá các yếu tố nguy cơ tắc mạch bằng thang điểm CHA 2DS2-VASc một cách thường quy, từ đó chiến lược điều trị dự phòng huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim để phòng ngừa tắc mạch.
Cần nâng cao năng lực cho các bác sĩ lâm sàng trong việc điều trị chống đông trong rung nhĩ không có bệnh van tim để dự phòng tắc mạch. Cần giáo dục bệnh nhân nhận thức được bệnh lý và các nguy cơ của rung nhĩ, từ đó có các biện pháp dự phòng thích hợp. Nên đưa thuốc kháng đông đường uống (Sintrom) vào danh mục thuốc cần có ở bệnh viện.
Nghi Anh