
Đái tháo đường là một bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng mạn tính. Đái tháo đường không chỉ do rối loạn chuyển hóa carbohydrat mạn tính làm cho Glucose máu luôn tăng cao mà còn gây ra các rối loạn chuyển hóa lipid, protide…
Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch, làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột quỵ, tăng các biến chứng mạch máu khác. Hậu quả nặng nề nhất là gây tử vong hoặc tàn phế.
Theo Liên đoàn Đái tháo đường thế giới khoảng 11% chi phí y tế trên toàn thế giới dành cho đái tháo đường, bệnh tập trung ở những người đang ở độ tuổi lao động, xuất hiện ngày càng nhiều ở đối tượng trẻ. Biến chứng mạch máu lớn là một trong những tổn thương phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2, trong đó rối loạn chuyển hóa lipid đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh, cũng là nguyên nhân sâu xa gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo type 2. Điều trị đái tháo đường phải đồng thời khống chế được các chỉ số lipid thì mới cải thiện được sức khỏe cho người bệnh. Tuy vây phần lớn các bác sĩ điều trị chỉ quan tâm đến glucose máu mà ít chú ý đến rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường.
Trong năm 2014, BSCKI.Trương Xuân Cơ đã thực hiện nghiên cứu “Rối loạn lipid máu bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có tăng huyết áp được điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Diêm”.
Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lipid máu được dựa theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam với cholesterol toàn phần ≥ 5,2 mmol/l, triglycerid ≥2,3 mmol/L, HDL- cholesterol ≤0,9 mmol/L và LDK- Cholesterol ≥ 3,1 mmol/L. Những bệnh nhân mắc bệnh gây rối loạn chuyển hóa lipid, suy thận, suy gan,Basedow, suy giáp, bệnh tuyến yên không chọn tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 73 đối tượng nghiên cứu tham gia, trong đó nữ 41 người (56%) nhiều hơn so với nam giới. Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu tập trung từ 50-70 tuổi, chiều cao trung bình 1,59m; cân nặng trung bình 64,3 kg. Bệnh nhân béo phì độ I chiếm gần 55%, đối với nam giới béo bụng có tỷ lệ 46,5%.
Qua phân tích các dữ liệu nghiên cứu, Bs Cơ đã có kết luận 100% đối tượng nghiên cứu có rối loạn thành phần lipid máu, trong đó rối loạn lipid máu hỗn hợp chiếm 71,25% trong đó tăng Cholesterol toàn phần + tăng LDL- cholesterol+ tăng Triglycerid chiếm 53,84%, tăng Cholesterol toàn phần + tăng Triglycerid chiếm 25%.
BS.Cơ đã có kiến nghị khi thăm khám điều trị bệnh nhân đái tháo đường typ 2 các thầy thuốc lâm sàng ngoài việc chú ý đến nồng độ Glucose máu cần phải thăm khám kỹ một cách toàn diện đặc biệt chú ý đến các rối loạn lipid máu để có hướng điều trị tích cực tránh các biến chứng muộn có thể xảy ra.
Trong chế độ ăn ngoài việc tiết thực kiêng khem đường thì hạn chế các thực phẩm có chứa mỡ trong bữa ăn hàng ngày, béo phì, thói quen ăn nhiều, ít vận động cần được chú ý đến. Khoa dinh dưỡng cần có kế hoạch tư vấn về dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Diêm.
Theo BS.Trương Xuân Cơ, mục đích điều trị rối loạn lipid máu chủ yếu là làm giảm LDL-C<2,6 mmol/l (<100mg/dl). Cần điều chỉnh chế độ ăn thật nghiêm ngặt cho mọi bệnh nhân, đồng thời cho thuốc phối hợp ngay khi LDL-C>3,4 mmol/l.
Trong những trường hợp cụ thể, khi bệnh nhân đã có biểu hiện bệnh mạch vành, mục đích điều trị chủ yếu là phải giảm được LDL-C <2,6 mmol/l (<100 mg/dl). Cần điều chỉnh chế độ ăn thật nghiêm ngặt cho mọi bệnh nhân, đồng thời cho thuốc phối hợp ngay khi LDL-C >3,4 mmol/l.
BS.Cơ lưu ý điều trị cụ thể cần quan tâm chế độ ăn và sinh hoạt: Dùng chế độ giảm Cholesterol và calo (nếu bệnh nhân béo phì). Gồm 2 bước: Bước 1: thành phần chất dinh dưỡng ăn hàng ngày có lượng acid béo bão hòa < 10%, tổng số các chất béo không quá 30% và lượng Cholesterol phải <300mg/ngày. Như vậy là cần tránh hoặc giảm các chất mỡ động vât, trứng, sữa nguyên, phủ tạng động vật, các loại pho-mat, kem..Tăng cường ăn hoa quả tươi, rau, và các loại ngũ cốc với lượng tinh bột chiếm khoảng 55-60 % khẩu phần. Bước 2: Được áp dụng khi thực hiện bước trên sau 6-12 tuần không kết qủa. Trong bước này làm giảm tiếp lượng acid béo bão hòa xuống <7% khẩu phần và lượng Cholesterol <200 mg/ngày.
Ngoài ra cần nhớ, nếu chỉ điều chỉnh chế độ ăn theo như chỉ định đã nói trên thì thời gian cần ít nhất là 6 tháng. Cứ 6-8 tuần nên kiểm tra lại lượng Cholesterol máu. Chế độ ăn phải được duy trì lâu dài cho dù có dùng thuốc hay không dùng.
Cần lưu ý hơn khi dùng chế độ ăn này cho người già và phụ nữ có thai. Ở bệnh nhân bị tăng TG, cần hạn chế mỡ động vật, đường và rượu.
Giảm cân nặng cho những bệnh nhân béo phì. Nên bắt đầu giảm dần lượng calo hàng ngày, thường hạn chế ở mức 500 calo/ngày.
Tập thể dục là rất quan trọng, nó có thể làm giảm được LDL-C và tăng HDL-C. Tâp thể dục còn giúp giảm cân nặng, giảm huyết áp và làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành.
Mai Trang