
Ung thư là một bệnh lý thường gặp, là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. Công tác chẩn đoán và điều trị ung thư luôn là vấn đề thế giới quan tâm và đầu tư nghiên cứu.
Theo Giáo sư Mai Trọng Khoa – Trung tâm Ung bướu và Y học hạt nhân Bệnh viện Bạch Mai kỹ thuật PET (positron emission tomography) là ghi hình bằng bức xạ positron. PET ghi hình theo nguyên tắc chuyển hóa ở mức độ tế bào, mức độ phân tử. PET giúp ghi hình được khối u một cách đặc hiệu với cả thông tin về chuyển hóa và hình ảnh giải phẫu ở giai đoạn còn rất sớm so với một số kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh khác. Đặc biệt máy PET/CT ra đời với sự kết hợp giữa máy PET với máy chụp cắt lớp điện toán CT trong cùng một hệ thống, người bệnh đồng thời vừa được chụp CT vừa được chụp PET trong cùng một hệ tọa độ. Sự kết hợp hình ảnh CT cho hình ảnh cấu trúc rõ và sắc nét cộng với hình ảnh của PET gồm hình ảnh chức năng và chuyển hóa sẽ cung cấp những thông tin rất có giá trị với độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác cao.
Vì vậy PET/CT đã trở thành một trong những kỹ thuật phát hiện tổn thương ung thư chính xác nhất hiện nay. PET/CT được chỉ định trong ung thư giúp phát hiện bệnh sớm, phân loại giai đoạn chính xác, phát hiện và đánh giá tái phát, di căn, đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị và đặc biệt gần đây nhất là lập kế hoạch xạ trị với PET/CT mô phỏng.
GS Mai Trọng Khoa nhấn mạnh, trong ung thư việc xác định chính xác các đích xạ trị luôn là mục tiêu số một, quyết định kết quả điều trị. CT mô phỏng cho phép xác định các tổn thương chính xác tuy nhiên vẫn còn hạn chế trong một số trường hợp. Mô phỏng lập kế hoạch xạ trị bằng PET/CT có một số ưu điểm so với CT đó là PET/CT xác định chính xác rìa tổn thương hơn CT trong những trường hợp khó xác định ranh giới giữa khối u và tổ chức xung quanh ở những khối u đồng tỷ trọng như ung thư vòm, ung thư thanh quản, ung thư thực quản, giữa u phổi với tổ chức phổi xẹp…Điều này rất có ý nghĩa giúp cho việc xạ trị chính xác vào tổ chức u đồng thời tránh chiếu xạ vào những tổ chức lành tính nhằm nâng cao hiệu quả cũng như giảm bớt các tác dụng phụ do tia xạ.
Đối với những trường hợp khối u có kích thước nhỏ, không nhìn thấy trên CT nhưng vẫn có thể phát hiện được trên PET/CT do tính chất kết hợp bổ sung cho nhau giữa hình ảnh chuyển hóa của PET và hình ảnh giải phẫu của CT trên cùng một hệ thống, Gs Mai Trọng Khoa lấy ví dụ đó là khối u nhỏ ở vòm họng, u thực quản, ung thư phổi thể thâm nhiễm phế quản giai đoạn sớm. Ngoài ra PET/CT rất có giá trị trong việc phát hiện di căn hạch vùng mà trên CT khó phát hiện được, đặc biệt những hạch có kích thước nhỏ, làm thay đổi liều từ xạ dự phòng sang xạ trị, tăng khả năng kiểm soát tại vùng, nâng cao hiệu quả điều trị. Vì vậy việc sử dụng PET/CT để lập kế hoạch xạ trị với máy gia tốc kỹ thuật 3D và xạ trị điều biến liều IMRT sẽ cho kết quả xạ trị chính xác, hiệu quả và an toàn ít tác dụng phụ hơn so với việc sử dụng CT, MRI mô phỏng.
Theo Gs Khoa, trong quá trình lập kế hoạch xạ trị, vấn đề quan trọng nhất là xác định được thể tích khối u thô – GTV (gross tumor volume), thể tích bia lâm sàng – CTV (clinical target volume) và thể tích đích điều trị - PTV (planning target volume). Trước đây khi chưa có kỹ thuật PET/CT; xác định GTV, CTV dựa trên hình ảnh CT hoặc MRI. Do thể tích khối u thô mà các nhà lâm sàng phân biệt bằng mắt thường thường không chính xác vì giữa mô lành và tổ chức ung thư không có ranh giới rõ ràng. Từ khi PET ra đời, xuất hiện thêm khái niệm mới là thể tích đích sinh học – BTV (Biologic target volume) hay GTV-PET. Với PET/CT mô phỏng, các nhà xạ trị xác định thể tích sinh học BTV là hình ảnh khối u ở mức độ chuyển hóa gồm cả những vùng chưa thấy biến đổi về cấu trúc trên CT, MRI cũng được phát hiện. Ngoài ra BTV còn đưa ra mật độ tế bào ung thư trong thể tích điều trị, dựa vào độ tập trung hoạt độ phóng xạ đo bằng độ hấp thu chuẩn cực đại – giá trị max SUV với ngưỡng xác định ≥ 2,5giúp việc lập kế hoạch phân liều cao theo mật độ tế bào u trong khối u, tức là ở những chổ nào có nhiều tế bào ác tính sẽ bị bức xạ với liều cao hơn những chỗ ít tế bào ác tính. Gs Khoa lưu ý, BTV chỉ thay thế cho GTV trong quá trình lập kế hoạch xạ trị, còn việc xác định thể tích CTV, PTV vẫn tuân theo bệnh học. Ví dụ, đối với ung thư vòm họng, khi làm PET/CT, hạch cổ âm tính không có nghĩa là chưa có vi di căn hạch cổ, do vậy vẫn phải xạ trị dự phòng vào hạch cổ theo quy ước.
Có thể nói ứng dụng hình ảnh PET/CT mô phỏng để lập kế hoạch xạ trị gia tốc, đặc biệt là xạ trị điều biến liều (IMRT) là một kỹ thuật đỉnh cao của điều trị ung thư hiện nay. Kỹ thuật PET/CT mô phỏng lập kế hoạch xạ trị đã được triển khai nhiều nước trên thế giới. GS.Mai Trọng Khoa cho biết tại Bệnh viện Bạch Mai sử dụng hình ảnh PET/CT mô phỏng để lập kế hoạch xạ trị gia tốc 3D và xạ trị điều biến liều IMRT cho người bệnh theo các bước: bệnh nhân được chụp PET/CT với phương tiện cố định và hệ thống laser định vị không gian 3 chiều. Sau đó hình ảnh PET/CT được chuyển sang phòng lập kế hoạch xạ trị gia tốc. Lập kế hoạch xạ trị gia tốc bằng phần mềm prowess panther với kỹ thuật xạ trị điều biến liều IMRT hoặc xạ trị theo hình dạng khối u (3D CRT). Xác định các thể tích cần tia xạ, thể tích khối u thô (GTV), thể tích đích lâm sàng (CTV), thể tích đích điều trị (PTV), thể tích đích sinh học (BTV) với ngưỡng max SUV≥ 2,5. Xác định các cơ quan lành lân cận cần bảo vệ với liều giới hạn chịu đựng đã biết, lập các trường chiếu, góc chiếu, mức năng lượng. Tính liều, kiểm tra phân liều trên thể tích cần tia và cơ quan lành xung quanh trên bản đồ đường đồng liều, hình ảnh 3D và bản đồ liều thể tích (DVH). Kiểm tra liều lượng trước khi xạ trị (QA), tiến hành xạ trị trên máy gia tốc.
Kết quả thực tế cho thấy chụp PET/CT mô phỏng để lập kế hoạch xạ trị gia tốc bằng kỹ thuật 3D hoặc IMRT cho thấy PET/CT phát hiện thêm tổn thương gần 30% so với CT, xác định được những tổn thương u mà CT đơn thuần khó phân biệt với mô lành, tổ chức nhu mô phổi xẹp, đặc biệt phát hiện được các hạch di căn có kích thước nhỏ giúp thay đổi đích xạ trị, liều xạ trị tránh không bỏ sót tổn thương. Tỷ lệ đáp ứng sau điều trị của người bệnh tốt, đối với những ca ung thư vòm, thanh quản, hạ họng, phổi, thực quản, trực tràng đáp ứng hoàn toàn đến gần 92%, thấp nhất là ung thư trực tràng với gần 30%.
Quốc Nguyên