
Theo báo cáo của Bệnh viện Trung ương Huế tác giả Lê Thiện Thuyết trong 2 năm (2002-2003) tỷ lệ trẻ bị co giật do sốt nhập viện là 3,16% (206/6513) bệnh nhi nhập viện dưới 15 tuổi.
Phân tích của tác giả Nguyễn Văn Thắng - Bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội, co giật do sốt (CGDS) xảy ra khi trẻ ở tuổi nguy cơ có sốt. Sốt là điển hình cao hơn những trẻ ở nhóm chứng có bệnh tương tự. Mặc dù cơn co giật không phải luôn xảy ra ở cùng thời gian khi điểm cao nhiệt độ hoặc lúc biểu hiện đầu tiên của sốt. Yếu tố nguy cơ được thấy thường xuyên nhất đối với co giật do sốt là tiền sử gia đình có co giật do sốt.
Hầu hết trẻ em bị co giật do sốt không bị tái phát lại nhưng 1/3 trẻ mắc có tái phát cơn. Tuổi được xem là yếu tố nguy cơ gây co giật do sốt. Hơn một nửa số yếu tố nguy cơ thấy trong năm đầu sau co giật do sốt lần đầu và 90% tái phát lại trong năm thứ hai. Tiền sử gia đình về co giật do sốt (nhưng không phải động kinh) liên quan đến co giật do sốt tái phát. Co giật do sốt tái diễn thường gặp hơn ở trẻ có co giật do sốt lần đầu khởi phát co giật ở nhiệt độ khá thấp. Nhiều cơn co giật do sốt lần đầu xảy ra trong cùng đợt sốt cũng được xem là liên quan đến nguy cơ tăng co giật do sốt tái phát. Co giật do sốt tái phát thường có khuynh hướng kéo dài nếu cơn co giật do sốt lần đầu là kéo dài. Tuy nhiên tình trạng động kinh do sốt ở trẻ bình thường không được xem là nguy cơ tăng lên có ý nghĩa đối với co giật do sốt phát triển thành động kinh.
Hầu hết các bệnh sốt liên quan đến CGDS là do các bệnh nhiễm trùng thường gặp như viêm amydal, viêm đường hô hấp trên, viêm tai giữa. Trẻ nhỏ thường hay mắc các bệnh nhiễm trùng và thường bị sốt cao và co giật. Tuổi, sốt và cơn co giật là 3 yếu tố cấu thành cơ bản tạo nên co giật do sốt.
Tác giả Nguyễn Văn Thắng phân tích, hầu hết CGDS xảy ra ở trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi, tỷ lệ gặp cao nhất ở 18 tháng tuổi. Có từ 6-15% trường hợp CGDS xảy ra sau 4 tuổi và rất hiếm xảy ra hơn 6 tuổi.
Theo định nghĩa co giật do sốt, sốt là yếu tố khởi phát cơn co giật. Không có sốt không có co giật, đó là điểm khác với động kinh. Nhiều trường hợp co giật do sốt xảy ra sớm ngay khi mắc bệnh và có thể là triệu chứng khởi đầu. Một số khác xảy ra trong hoặc sau biểu hiện của sốt. Nhiều trường hợp không xác định được rõ thời điểm của sốt trước hoặc sau cơn co giật ở trẻ em. Không có số liệu báo cáo về nhịp độ nhiệt độ tăng lên quan trọng hơn hay điểm cao của thân nhiệt đạt được. Cũng không rõ liệu giới hạn thấp của nhiệt độ là bao nhiêu sẽ xác định chẩn đoán co giật do sốt. Nhiều nghiên cứu có nêu lên nhiệt độ trên 380C, một số khác cho rằng giới hạn này là 3804. Trẻ em bị CGDS với nhiệt độ khi sốt dưới 3809 thường có khuynh hướng bị cơn giật cục bộ hoặc bị tái phát trong cùng một bệnh sốt. Thuốc hạ sốt không tỏ ra có hiệu quả giảm nguy cơ của co giật do sốt và gợi nên không phải chính sốt gây nên co giật do sốt.
Một triệu chứng quan trọng của CGDS là cơn co giật. Có ý kiến sử dụng thuật ngữ “hiện tượng” hơn từ co giật. Những giai đoạn khác nhau hay những hiện tượng lâm sàng có thể co giật động kinh điển hình (đặc biệt là cơn giật rung-co cứng) hoặc cơn giống co giật như cơn lạnh run, cơn ngất, cơn co giật thiếu oxy phản xạ, những đợt thở gấp, ý thức suy giảm, và cơn ngừng thở có thể liên quan với bệnh có sốt và phải được loại trừ nhờ hỏi bệnh tỉ mỉ. Có thể một số trẻ em được báo cáo là co giật do sốt thực tế có một số rối loạn không động kinh hoặc kịch phát khác và không phải co giật do sốt.
Co giật do sốt điển hình được chia thành hai nhóm “đơn thuần” và “phức hợp”. CGDS đơn thuần là cơ co giật giật rung-giật cứng toàn thể, không có cơn cục bộ, thời gian co giật ngắn dưới 10 phút, không tái diễn cơn thứ hai trong 24 giờ và có thể ngừng cơn một cách tự phát.
Cơn co giật phức hợp là CGDS có kèm theo một hoặc hơn các dấu hiệu cơn co giật cục bộ; thời gian co giật kéo dài trên 15 phút; có trên một cơn co giật trong 24 giờ hoặc trong cùng một bệnh sốt. Thuật ngữ “phức hợp” có thể được thay bằng từ “phức tạp-complicated” trong sự cân nhắc về phân loại co giật đề nghị mới trong đó từ đơn giản và phức hợp trong phân loại của Hiệp hội kháng động kinh về co giật từng phần (cục bộ) có thể không dùng. Về phương diện lí lẽ, từ “phức hợp” hoặc “phức tạp” với sự mô tả chính xác của co giật và tính chất đặc biệt co giật do sốt là “kéo dài”, “cục bộ” hoặc “đa dạng”.
Trạng thái co giật do sốt là cơn CGDS kéo dài bằng hoặc trên 30 phút, có thể gây tổn thương thùy thái dương giữa và hình thành động kinh thái dương sau này, thể bệnh gặp dưới 5% trường hợp. Nghiên cứu của Joseph Maytal nhận thấy trạng thái CGDS ở trẻ có bất thường thần kinh trước đó là một yếu tố nguy cơ tái phát cơn CGDS và động kinh.
Trong một đợt CGDS, trẻ có thể bị một hoặc nhiều cơn co giật. Theo các nghiên cứu khoảng 60-70% số trẻ có 1 cơn duy nhất trong một đợt CGDS, 30-35% có 2 cơn và 5-10% có 3 cơn hoặc nhiều hơn.
Trong quá trình bác sĩ khám bệnh, tác giả Nguyễn Văn Thắng lưu ý cần hỏi bệnh sử của gia đình về co giật do sốt, bệnh động kinh…khi khám bệnh cần chú ý những dấu hiệu của viêm màng não, các dấu hiệu thần kinh khu trú, sự bất đối xứng, các dấu chứng của bệnh chuyển hóa hoặc thần kinh, vòng đầu có thể cung cấp những thông tin quan trọng. Một số câu hỏi được đặt ra khi đứng trước một trẻ bị co giật do sốt lần đầu hoặc tái phát: Có phải là cơn co giật, không phải là cơn run rét, một cơn co giật do phản xạ thiếu oxy, hoặc một hiện tượng không động kinh khác? Đôi khi khó khăn cho thầy thuốc nếu không được chứng kiến cơn co giật hoặc do quá lo lắng của gia đình làm cho nhận định sai sự thật. Cũng không phải là dễ xác định nếu cơn co giật được gây nên bởi sốt ở trẻ được nghi ngờ bị động kinh.
Có phải sốt gây co giật? Nếu vậy nhiễm khuẩn ở đâu? Có thể không trả lời được ngay nếu sốt thêm vào một cơn co cứng-rung giật không do sốt, mặc dù cơn xảy ra hiếm khi vượt quá 380C. Nhiễm khuẩn tai, mũi, họng, đường hô hấp dưới, đường tiết niệu và nhiễm khuẩn thần kinh có thể được xem như là nguyên nhân có thể của bệnh sốt. Xét nghiệm máu thông thường không cần thiết trừ khi có dấu hiệu lâm sàng nghi vấn. Nguy cơ của vãng khuẩn máu sẽ xảy ra ở cùng một trẻ với sốt hoặc không sốt cao co giật đơn thuần, vì vậy phải thăm khám trẻ tỉ mỉ.
Liệu có phải một nhiễm khuẩn thần kinh: viêm màng não, viêm não, hoặc một bệnh não?
Đây là một chẩn đoán rất quan trọng. Phải loại trừ một bệnh nhiễm khuẩn thần kinh ở một trẻ có co giật do sốt. Do đó, một trong những quyết định cần thiết nhất là có nên chỉ định chọc dò tủy sống thắt lưng không? Tỷ lệ xác định của viêm màng não ở trẻ em với một co giật do sốt vào khoảng 2-5%. Xác định dương tính của viêm màng não từ chọc dò tủy sống thắt lưng thay đổi theo các nghiên cứu, nói chung là thấp khi thiếu các yếu tố nguy cơ bao gồm cơn giật cục bộ, thăm khám lâm sàng nghi ngờ. Xác định trẻ có viêm màng não là dễ nếu trẻ lớn hơn 2 tuổi, trẻ có thể có dấu hiệu màng não, sợ ánh sáng; ở trẻ dưới 2 tuổi có thể khó khăn hơn, cần phải xác định viêm màng não hay viêm não (thường gặp viêm não herpes simplex nhóm 1), cần chú ý những dấu hiệu sau: trẻ có kích thích, giảm ăn, thờ ơ; cơn co giật kéo dài, cục bộ hoặc co giật do sốt xảy ra như một trong các triệu chứng của một bệnh sốt; có các dấu hiệu của viêm màng não, viêm não; các triệu chứng thiếu sót vận động hoặc ý thức kéo dài; đã điều trị trước với kháng sinh. Trong các trường hợp như vậy cần thiết phải chọc dò tủy sống và làm các xét nghiệm về máu, đường máu, điện giải trừ khi có chống chỉ định. Cần phải thực hiện chọc dò tủy sống ở trẻ dưới 12 tháng hoặc dưới 6 tháng có co giật do sốt như một chỉ định cần thiết. Trẻ từ 12-18 tháng tuổi, các triệu chứng và các dấu hiệu viêm màng não cũng có thể kín đáo, do vậy chọc dò tủy sống cũng là một chỉ định ở trẻ có biểu hiện co giật do sốt.
Người thầy thuốc cần giải thích cho cha mẹ có trẻ bị CGDS là bệnh phổ biến, tính chất cơn tái phát không rõ ràng. Nguy cơ tổn thương não và phát triển thành động kinh sau CGDS là rất hiếm. Cần phải đảm bảo cho cha mẹ thấy rất hiếm trẻ bị tử vong vì CGDS. Gia đình cần phải làm gì khi con họ bị bệnh sốt và làm gì khi con họ bị co giật do sốt. Thực hiện đầy đủ những dặn dò của thầy thuốc khi trẻ bị sốt cao co giật lần đầu, lưu ý cần phải đưa trẻ đến cơ sở y tế khi trẻ bị cơn co giật trương lực-giật rung kéo dài từ 5-10 phút hoặc hơn, hoặc cơn co giật kéo dài có vẻ không ngừng./.
Huy Hoàng