[Đăng ngày: 22/05/2018]
Loét nhiễm trùng bàn chân là biến chứng thường gặp và điều trị tốn kém ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Theo các chuyên gia đái tháo đường (ĐTĐ), có 25% bệnh nhân ĐTĐ sẽ tiến triển đến loét chân vào một thời điểm nào đó trong đời. Thống kê Hiệp hội ĐTĐ thế giới cứ 30 giây có một bệnh nhân ĐTĐ bị cắt cụt chân. 

Trong điều trị loét nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ, ngoài việc điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa, sự cắt lọc vết thương, chăm sóc vết thương tại chỗ và dùng kháng sinh thích hợp đóng vai trò quan trọng. Có 40% bệnh nhân bị nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ nhưng điều trị kháng sinh không phù hợp kết quả kháng sinh đồ. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy vi khuẩn thường gặp ở vết loét nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ là staphylococcus và Ecoli. Nhưng kết quả nghiên cứu gần đây tại Ấn Độ ghi nhận vi khuẩn Pseudomonas sp chiếm đa số (34%). Như vậy, phổ vi trùng học cũng như tình hình đề kháng kháng sinh diễn biến rất nhanh, thay đổi theo thời gian, vùng miền. Việc có dữ liệu thống kê về vi khuẩn học cũng như sự nhạy cảm kháng sinh sẽ hỗ trợ cho quyết định chọn kháng sinh sớm, phù hợp giúp rút ngắn thời gian nằm viện; giảm được chi phí điều trị, giảm nguy cơ đề kháng kháng sinh và đoạn chi do nhiễm trùng.

Từ tháng 5/2015 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Viết An cùng cộng sự Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ và Trường Đại học Y Dược Cần Thơ thực hiện nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Tình hình biến chứng loét nhiễm trùng bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2”.

Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đái tháo đường týp 2 loét nhiễm trùng bàn chân điều trị tại Khoa Nội Lão học, Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ. Chẩn đoán ĐTĐ theo tiêu chuẩn Hiệp Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2015; dựa vào một trong các tiêu chuẩn HbA1C > 6,5%; một mẫu đường huyết tương bất kỳ > 200mg/dL (11,1mmol/L), kết hợp với triệu chứng ăn nhiều, uống nước nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều; đường huyết lúc đói sau 8 giờ nhịn ăn > 126 mg/dL (7,8mmol/L). Chẩn đoán loét nhiễm trùng bàn chân dựa theo tiêu chuẩn Hiệp hội các bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ năm 2012: vết thương tiết dịch mủ, có > 2 triệu chứng của viêm tại chỗ: sưng, nóng, đỏ, đau và có sự hiện diện của vi khuẩn gây bệnh qua cấy định danh.

BS An báo cáo có 67 bệnh nhân ĐTĐ týp 2 đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Vết loét nhiễm trùng bàn chân được đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng gồm: phân độ loét chân theo phân độ Wagner, khám cảm giác nông, sâu, khám mạch máu, số lượng BC, nồng độ CRP, đường huyết, HbA1C, siêu âm mạch máu chi dưới, chụp X-quang bàn chân.

Về vi khuẩn học, mỗi vết loét được cấy mủ bằng một que riêng, khảo sát số lượng vi khuẩn/mỗi mẫu cấy, loại vi khuẩn phân lập, kháng sinh đồ.
Đánh giá kết quả điều trị gồm sự phù hợp kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm với kết quả kháng sinh đồ, thời gian nằm viện, kết quả điều trị lành vết loét.

Tác giả nghiên cứu báo cáo, 67 đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 62,2 tuổi; nhóm bệnh nhân > 60 tuổi chiếm 53,7%; tỷ lệ nữ/nam là 2,9/1. Thời gian phát hiện ĐTĐ trung bình chung là 7,3 năm, người ngắn nhất là 7 tháng, dài nhất là 18 năm; nhóm bệnh nhân mắc ĐTĐ 5 – 10 năm chiếm tỷ lệ cao (53,7 bệnh nhân). Có 92% bệnh nhân có mức kiểm soát đường huyết kém. Tác giả nhận xét, đa số bệnh nhân loét nhiễm trùng bàn chân có thời gian mắc bệnh kéo dài với mức độ kiểm soát đường máu kém, đây là một trong những nguy cơ loét chân ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2.

Về phân lập vi khuẩn, kết quả có 76 vi khuẩn/67 mẫu loét nhiễm trùng bàn chân, trong đó tỷ lệ phân lập được một loại vi khuẩn là 86,5%; vi khuẩn Gram âm chiếm 68%. Tác giả nghiên cứu lưu ý kết quả nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy vi khuẩn Gram âm chiếm ưu thế, do vậy cần có thêm nhiều nghiên cứu ở Đa trung tâm hơn để có kết luận chính xác và hướng dẫn kháng sinh phù hợp cho từng vùng, khu vực trong điều trị vết loét nhiễm trùng bàn chân.

Kết quả trong nghiên cứu có 64% điều trị kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm không phù hợp với kết quả kháng sinh đồ; tương tự có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cũng có kết quả như vậy; điều này cho thấy việc dự đoán vi khuẩn gây bệnh trước khi có kết quả xác định cấy định danh và kháng sinh đồ làm sao để có độ phù hợp cao là rất quan tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian nằm viện trung bình của đối tượng nghiên cứu là 15,95 ngày. Phân tích nghiên cứu cho thấy, kết quả hẹp tắc mạch máu trên siêu âm Doppler mạch máu chi dưới là yếu tố tiên đoán độc lập thời gian nằm viện; bên cạnh các yếu tố như số lượng bạch cầu, nồng độ CRP lúc nhập viện và phân độ Wagner.

Tác giả lưu ý, siêu âm mạch máu là một yếu tố cần thiết giúp đánh giá quá trình lành vết loét bàn chân ở bệnh nhân ĐTĐ. Tỷ lệ điều trị lành vết loét trong nghiên cứu là 88%. Xét nghiệm HbA1C là yếu tố liên quan độc lập đối với lành vết thương. Tác giả cũng lưu ý những bệnh nhân sử dụng kháng sinh ban đầu phù hợp sẽ giảm được tỷ lệ đoạn chi; thời gian nằm viện ngắn hơn; có nghiên cứu nguy cơ đoạn chi tăng 1,2 lần tương ứng với mỗi 1% tăng lên của xét nghiệm HbA1C.
Anh Duy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 325

Số lượt truy cập: 9355865

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang