
Human papillomavirus (HPV) là nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục phổ biến và là oncovirus dẫn đến một số loại ung thư như ung thư cổ tử cung, ung thư âm hộ - âm đạo, ung thư dương vật, ung thư hậu môn, ung thư bàng quang, ung thư phổi … Với hơn 100 genotype của HPV đã được xác định, trong đó HPV-16, HPV-18 là hai genotype nguy cơ cao thường gặp nhất và phân bố rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt trên các bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, sự phân bố genotype HPV không chỉ thay đổi theo từng vùng địa lý mà còn khác nhau trên các mô tế bào của cơ thể chủ.
Vừa qua, BS. Hoàng Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Y dược Hải Phòng cùng cộng sự đã báo cáo nghiên cứu “Đánh giá mối liên quan giữa sự phân bố genotype HPV trên mô ung thư và phân loại mô bệnh học tại phía Bắc, Việt Nam”. Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 852/972 mẫu mô ung thư được xác định nhiễm HPV (HPV DNA dương tính phát hiện bằng phản ứng PCR với mồi GP5+/GP6+ original và modified). Các mẫu mô tươi (972 mẫu mô) được thu thập tại bệnh viện K trung ương và bảo quản ngay trong ni tơ lỏng hoặc nhiệt độ âm 800C.
Nghiên cứu áp dụng tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và phân loại mô bệnh học năm 2003.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 972 mẫu mô ung thư bao gồm mẫu mô ung thư cổ tử cung, ung thư âm hộ, ung thư âm đạo, ung thư dương vật và ung thư hậu môn. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận, từ 852 mẫu mô ung thư có HPV DNA dương tính, 19 genotype và 2145 chủng HPV đã được xác định. Các chủng genotype HPV “nguy cơ cao” chiếm 76,78% và genotype HPV nhóm “nguy cơ thấp” chiếm 23,22% (498/2145). Genotype HPV 16 là genotype chiếm tỷ lệ cao nhất 33,29% tiếp đến là genotype HPV 18 chiếm 27,22%.
Kết quả phân loại mô bệnh học cho thấy mẫu mô ung thư tế bào vảy chiếm đa số 775/972 (79,7%), tiếp đến là ung thư tế bào tuyến chiếm 152/972 (15,6%). Ung thư tế bào tuyến có nguy cơ nhiễm HPV genotype “nguy cơ cao và nguy cơ thấp” cao hơn 1,5 lần so với ung thư tế bào vảy nhưng lại có nguy cơ đơn nhiễm genotype HPV thấp hơn 0,4 lần so với ung thư tế bào vảy.
Theo đánh giá của BS. Hoàng Thị Thanh Huyền, báo cáo kết quả phân tích tổng hợp năm 2007 (meta-analysis) từ 78 nghiên cứu khác nhau trên 157.879 phụ nữ có xét nghiệm tế bào học cổ tử cung bình thường, tỷ lệ nhiễm HPV trên toàn thế giới là 10,4% trong đó, châu Phi (22,1%) và Trung Mỹ (20,4%) là những khu vực có tỷ lệ nhiễm HPV sinh dục nữ cao nhất. Châu Âu (8,1%) và châu Á (8,0%) có tỷ lệ nhiễm HPV tương đương. Như vậy, đến năm 2007, ước tính chung có khoảng 291 triệu phụ nữ trên khắp thế giới nhiễm HPV, khoảng 32% số họ nhiễm HPV-16, HPV-18 và khoảng 80% phụ nữ nhiễm HPV ít nhất một lần trong suốt đời sống tình dục. Đến năm 2010, một nghiên cứu khác phân tích tổng hợp trên hơn 1 triệu (1.016.719) phụ nữ có xét nghiệm tế bào học cổ tử cung bình thường đã báo cáo tỷ lệ nhiễm HPV toàn cầu là 11,7% trong đó, châu Phi và châu Mỹ vẫn là hai châu lục có tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất trên thế giới. Kết quả báo cáo chứng tỏ tỷ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng dân cư trên thế giới đang có xu hướng tăng nhanh. Theo ước tính, đến năm 2008, trên thế giới có khoảng 12.700.000 trường hợp bệnh nhân ung thư nhưng có tới 700.000 trường hợp bệnh nhân mắc các bệnh ung thư liên quan đến HPV trong đó, ung thư cổ tử cung dẫn đầu số trường hợp mắc bệnh với khoảng 530.000 bệnh nhân.
Trong tổng số 852 mẫu mô ung thư có HPV DNA dương tính, 19 genotype và 2145 chủng HPV đã được xác định. Các genotype “nguy cơ cao” được xác định bao gồm HPV 16,18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 53, 58, 59, 66, 82 và các genotype HPV “nguy cơ thấp” bao gồm HPV 6, 11, 42, 71, 81. Với 2145 chủng được phát hiện, có 1647 chủng genotype HPV nhóm “nguy cơ cao” chiếm 76,78% (1647/2145) và 498 chủng genotype HPV nhóm “nguy cơ thấp” chiếm 23,22% (498/2145). Genotype HPV 16 là genotype chiếm tỷ lệ cao nhất 33,29% (714/2145 chủng), tiếp đến là genotype HPV 18 chiếm 27,22% (584/2145 chủng) và HPV 11 chiếm 17,64% (378/2145 chủng). Như vậy, trong nghiên cứu này, kết quả xác định genotype HPV 16, 18 là hai genotype HPV chiếm tỷ lệ cao nhất, tương đồng với các báo cáo khác về vai trò của HPV 16, 18 trong cơ chế gây ung thư và khả năng thải loại tự nhiên.
HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục và có thể lây truyền khi tiếp xúc trực tiếp từ da qua da. HPV có khả năng thích ứng ở biểu mô sừng và niêm mạc gây tăng sinh tế bào biểu mô và gây biến đổi tế bào dẫn đến ung thư với vai trò chủ yếu của gen E6, E7. HPV nhân lên theo quá trình biệt hóa của tế bào đáy dưới dạng episome, đồng thời nhân lên trong các tế bào lớp trên tế bào đáy đã thoát khỏi chu trình nhân lên của tế bào nhờ vai trò tái thiết lập chương trình tiếp tục tổng hợp DNA ở tế bào sừng bị nhiễm của E6, E7 HPV.
Tường Huân