
Rung nhĩ là loại rối loạn nhịp tim thường gặp nhất và có liên quan đến tiên lượng xấu cho bệnh nhân. Theo thống kê năm 2008, rung nhĩ chiếm tỷ lệ xấp xỉ 1% trong dân số. Ước tính có khoảng 2,3 triệu người Mỹ bị rung nhĩ. Nguy cơ rung nhĩ tăng lên theo tuổi và khác nhau theo giới tính. Rung nhĩ thường gặp ở nam hơn so với nữ. Tăng huyết áp nguyên phát, bệnh tim thiếu máu cục bộ, suy tim, bệnh van tim và đái tháo đường là những tình trạng thường kèm theo với rung nhĩ.
Các nghiên cứu trên thế giới đều định nghĩa rung nhĩ không do bệnh van tim giới hạn cho các trường hợp rung nhĩ không kèm theo với bệnh van hai lá hậu thấp (chủ yếu là hẹp van hai lá), sửa van hai lá hoặc van tim nhận tạo.
Rung nhĩ không do bệnh van tim rất phổ biến ở các nước phát triển, khoảng 5% những người trên 65 tuổi và 10% những người trên 80 tuổi bị rung nhĩ. Ước tính đến năm 2050 sẽ có hơn 5 triệu người Mỹ bị rung nhĩ, hầu hết là rung nhĩ không do bệnh van tim. Bệnh nền của rung nhĩ không do bệnh van tim có thể là bệnh mạch vành, tăng huyết áp, bệnh cơ tim, hội chứng suy nút xoang, suy tim, rối loạn điện giải…
Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý tim mạch đang ngày càng gia tăng rõ rệt, nhiều trường hợp bệnh nhân có kèm theo rung nhĩ đã gây những khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Việc chẩn đoán và chiến lược điều trị rung nhĩ cần phải được thống nhất để giảm thiểu tối đa biến chứng của rung nhĩ, đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho bệnh nhân.
Tỷ lệ đột quỵ trung bình ở những bệnh nhân rung nhĩ không do van tim khoảng 5%/năm, gấp 2-7 lần so với người không có rung nhĩ. Nguy cơ rung nhĩ tăng theo tuổi, tuổi trung bình của rung nhĩ là 75, khoảng xấp xỉ 70% những ngưới mắc rung nhĩ ở độ tuổi 65 đến 85 tuổi.
Về triệu chứng rung nhĩ có biểu hiện lâm sàng đa dạng, có thể có hay không có các bệnh tim đã được phát hiện. Rung nhĩ có thể tự hết hoặc cần can thiệp thuốc để cắt cơn, sau một thời gian có thể xác định được một số đặc điểm như số lượng cơn, độ dài cơn, tần suất, kiểu khởi phát và đáp ứng với điều trị.
Có thể được ghi nhận rung nhĩ ngay nhờ cảm giác đánh trống ngực hoặc bởi hậu quả lên huyết động hoặc thuyên tắc mạch của nó hoặc theo sau một khoảng thời gian không triệu chứng. Ghi ECG ngoại trú liên tục có thể thấy rung nhĩ với những lúc có và không triệu chứng. Với những bệnh nhân có rối loạn nhịp vĩnh viễn sẽ giảm không còn đánh trống ngực sau này nhất là ở những người lớn tuổi.
Biểu hiện ban đầu của rung nhĩ có thể là một biến chức tắc mạch hoặc đợt suy tim nặng lên, nhưng hầu hết bệnh nhân kêu nhịp tim nhanh (hồi hộp), đau ngực, khó thở, mệt mỏi, đầu óc quay cuồng hoặc ngất.
Đa niệu có thể liên quan với sự giải phóng peptid lợi niệu nhĩ, đặc biệt khi bắt đầu hay kết thúc của rung nhĩ.
Ngất là một biến chứng không thường gặp của rung nhĩ, có thể xảy ra trên bệnh nhân chuyển nhịp với hội chứng suy nút xoang hoặc bởi do đáp ứng thất nhanh ở bệnh nhân có bệnh cơ tim phì đại, ở bệnh nhân hẹp động mạch chủ hoặc khi có đường dẫn truyền phụ.
Mặc dù đột quỵ được quy cho nhiều tổn thương chức năng liên quan với rung nhĩ, các dữ kiện đã có gợi ý rằng chất lượng cuộc sống giảm đáng kể ở bệnh nhân có rung nhĩ so với nhóm chứng cùng độ tuổi.
Anh Huy